CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

MÀI SẮC VŨ KHÍ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH, QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.

Vì thế mà càng nguy hiểm” và “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”... Vì thế, quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ suốt đời của mọi đảng viên.

Cũng vì sự dễ trỗi dậy, lây lan và nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên nếu không tự đề kháng và “miễn dịch” được trước sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân thì tất yếu sẽ sa vào cá nhân chủ nghĩa, bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, sẽ “thoái bộ và lạc hậu”.

Những người do “cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” là những người “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”.

Họ không chỉ thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm mất đoàn kết nội bộ mà còn làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Họ xa rời nhân dân, xem thường quần chúng, chỉ muốn phê bình người khác nhưng không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng...

Và cũng vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phải phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân bằng việc thực hiện nghiêm vũ khí tự phê bình và phê bình. Đây là việc làm vừa quan trọng và cần thiết, vừa thường xuyên và lâu dài của những người đảng viên cộng sản, góp phần để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

Trong rất nhiều thang thuốc để phòng, chống và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thì tự phê bình và phê bình là thang thuốc hữu hiệu nhất. Đó là “vũ khí” để chữa bệnh cá nhân chủ nghĩa/chủ nghĩa cá nhân, nên mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị (gọi chung là tổ chức) cần phải sử dụng thường xuyên, nghiêm túc như “rửa mặt hằng ngày” để gột rửa sạch những vết tích, tàn dư của chế độ cũ, để trừ bỏ mọi thói hư, tật xấu trong người. Vì tự phê bình và phê bình là “vũ khí” sắc bén, nên cá nhân, tổ chức sử dụng vũ khí đều phải dùng đúng chức năng, công năng, đúng hoàn cảnh, thời điểm... mới bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất.

Cụ thể, theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”, nên khi tiến hành vừa “phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt” vừa "phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Trong đó, tự phê bình là quá trình tự soi chính bản thân mình, nên khi soi phải đồng thời “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”. Đối với khuyết điểm của bản thân thì phải “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Việc tự đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm này sẽ giúp bản thân: Một mặt, thấy được “cái hay”, “cái dở” của mình; mặt khác, làm cơ sở cho những người xung quanh đóng góp ý kiến, nhằm sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Phê bình là để giúp người, nên cũng phải đồng thời “vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” của đồng chí mình, để có lỗi thì sửa, có ưu điểm thì phát huy. Trong khi phê bình, việc vừa tham gia góp ý kiến và chỉ ra cách thức, biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế, sai lầm để ngày càng tiến bộ; vừa cổ vũ, động viên đồng chí mình phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt... sẽ góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của mỗi tổ chức.

Để “mài sắc” vũ khí tự phê bình và phê bình, thì người phê bình người khác không chỉ phải luôn khách quan, trung thực, công khai, thẳng thắn, chân thành, có tình, có lý mà còn phải cung cấp thông tin, dẫn chứng chính xác, “không đặt điều”, “không thêm bớt” làm cho người được góp ý tâm phục, khẩu phục. Khi phê bình, cần lựa chọn phương pháp thích hợp trong lời nói, giọng nói, cách nói, nhất là phải phát ngôn đúng nơi, đúng chỗ; tránh kiểu ba phải, thành kiến, xu nịnh, dựa dẫm, “thói đạo đức giả” và nhất là tránh dùng lời lẽ mỉa mai, chua cay, “đâm thọc”, gây khó chịu, khó tiếp thu, gây tự ái hoặc hiểu nhầm cho người bị phê bình.

Còn người bị phê bình cũng cần phòng và tránh sự bức xúc, mất bình tĩnh, phản ứng gay gắt dẫn đến to tiếng, phát ngôn thiếu văn hóa hoặc có thái độ thách thức, khiêu khích người đang phê bình mình; nhất là cần tránh việc nhận khuyết điểm nhưng không tâm phục, khẩu phục, nên chỉ nhận qua loa, cho xong chuyện mà không quyết tâm sửa chữa, thậm chí vẫn tiếp tục mắc lại những khuyết điểm cũ. Riêng đối với những ý kiến góp ý chưa đúng, cần phải giải trình thì người bị phê bình cũng nên bình tĩnh, mềm dẻo, khiêm tốn và cầu thị...

Theo Hồ Chí Minh, việc mài sắc “vũ khí” tự phê bình và phê bình chỉ thực sự hữu hiệu khi người phê bình cũng như người tiếp thu ý kiến phê bình của người khác đều có động cơ trong sáng, đúng đắn, với tinh thần “phê bình việc làm, chứ không phê bình người”; khi cả hai người đều thành khẩn, thành tâm, không giấu giếm khuyết điểm của mình cũng như của đồng chí mình; đều phải tự giác nhận và vạch ra khuyết điểm của mình trước tập thể với tinh thần cầu thị, biết lắng nghe, thể hiện sự tiếp thu một cách thiện chí và quyết tâm sửa chữa.

Trong khi thực hiện “vũ khí” này, cả người tự phê bình lẫn người phê bình đều phải tránh động cơ vụ lợi, thành kiến cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi; lợi dụng phê bình để đả kích, cường điệu khuyết điểm, phủ nhận ưu điểm nhằm hạ uy tín, hạ bệ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ.

Trên thực tế, “vũ khí” tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc chưa được “mài sắc”, chưa được thực hiện nghiêm, bởi trong từng con người, từng đơn vị vẫn còn hiện tượng “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín” và dùng lý do “sợ mất thành tích của tập thể, của lãnh đạo” để che giấu hoặc bao che khuyết điểm, chạy tội cho đồng chí mình.

Tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng, “mất phiếu”, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân cũng như tâm lý sợ bị phê bình nên phải phê bình người khác nhưng phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức-thực chất là nói để lấy lòng nhau vẫn còn. Vì thế, để “vũ khí” tự phê bình và phê bình sắc bén trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì:

Một là, duy trì và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, hiệu quả “tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến cơ sở” gắn với nhiệm vụ chính trị, với sinh hoạt Đảng. Việc chuẩn bị tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức vừa phải có sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ của cấp ủy cấp trên, với phương châm “trị bệnh cứu người”, “thuốc đắng dã tật”, vừa phải được tiến hành chu đáo, nghiêm túc, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phải gắn liền với việc thực hiện các nghị quyết và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... để làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Hai là, vì tự phê bình và phê bình là quá trình tự soi, tự sửa, tự cứu mình và giúp người, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự phát triển vững mạnh của tổ chức, nên “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa.

Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”, chứ không chờ “có việc” mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và phát huy dân chủ; đề cao tính tự giác, trách nhiệm, thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn, phù hợp để “vũ khí” này trở thành động lực cho mọi sự phát triển, tạo được sự biến đổi về chất trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Đảng, nhân nguồn sức mạnh nội sinh trong từng cá nhân, trong từng tổ chức lên như cây nảy lộc, đơm hoa, kết trái.

Ba là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng vừa cẩn trọng vừa kịp thời, nghiêm túc, hiệu quả để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu trong tự phê bình và phê bình theo nguyên tắc tiến hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp uỷ, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên.

Cấp trên gương mẫu tự kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Trong kiểm điểm, cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để nguyên tắc tự phê bình và phê bình không chỉ bảo đảm chất lượng, hiệu quả mà còn góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức./.

PVH-NNTV

 

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN Ý NGHĨA THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 847 CỦA QUÂN UỶ TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI SĨ QUAN TRẺ HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, anh hùng giải phóng dân  tộc,  danh  nhân  văn  hoá thế giới, Người đã trọn đời hiến dâng cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân. Cả cuộc đời 79 mùa xuân của Người là bài ca đáng tự hào dân tộc, vì vậy, cùng với việc củng cố, chăm lo, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, Người cũng phê phán, đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt với chủ nghĩa cá nhân. Người khẳng định chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh nguy hiểm, kéo người ta xuống dốc không phanh, cần phải loại bỏ chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi người, tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đến thành công.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận, thực tiễn, là kim chỉ nam định hướng hành động cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, trước hết là cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính tri, thực hiện thắng lợi Nghị quyết 847 của Quân uỷ Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân biểu hiện cụ thể ở những khía cạnh sau: Một là, Người chỉ rõ nguồn gốc và tác hại của chủ nghĩa cá nhân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Theo Người chủ nghĩa cá nhân không tự nhiên sinh ra và tồn tại ở mọi xã hội, xuất hiện ở xã hội cũ, còn tồn tại chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, còn tình trạng người bóc lột người, khi giải quyết quan hệ, lợi ích thì tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân, không quan tâm đến lợi ích của người khác, chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân. Vì vậy, hệ luỵ của chủ nghĩa cá nhân đối với xã hội là vô cùng nguy hại, đó là căn nguyên, nguồn gốc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh, dẫn đến suy thoái, biến chất, làm giảm sút năng lực và uy tín của Đảng. Người khẳng định: “do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”. Từ chủ nghĩa cá nhân đẻ ra vô vàn thói hư tật xấu, Người đã ví chủ nghĩa cá nhân như một loại vi trùng vô cùng nguy hiểm, đó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội, những người cộng sản chân chính cần phải đấu tranh loại bỏ chủ nghĩa cá nhân. Người khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó”. Tuy nhiên, theo Người đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không được giày xéo lên cá nhân mỗi người, nếu chủ nghĩa cá nhân đó không có hại cho tập thể.

Căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tính chất, yêu cầu, nhiệm vụ và mức độ biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân đó như thế nào mà có hình thức, biện pháp đấu tranh phù hợp, hiệu quả. Người chỉ rõ: “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích cá nhân. Mỗi người đều có tính cách, sở trường, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”.

Hai là, Người chỉ rõ cách thức, biện pháp đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân.

Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Người yêu cầu mỗi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng, nhất là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải không ngừng giáo dục lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin; nêu cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình; gắn bó mật thiết với Nhân dân, không tham lam, ích kỷ, công thần, hách dịch, gắn mình với tổ chức, với hoạt động cách mạng; ra sức học tập, rèn luyện về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra ngày càng cao ở mỗi giai đoạn, thời điểm cụ thể; Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về bản chất cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân, phải tự sửa mình bằng cách “mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải tự rửa mặt”. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, theo Người là quá trình lâu dài, gian khổ, phức tạp, phải kiên trì, bền bỉ, bởi đó là cuộc đấu tranh bên trong ở mỗi con người cụ thể, không lộ rõ nguyên hình, nó ẩn nấp trong tư tưởng, suy nghĩ và hành vi của mỗi cá nhân. Người so sánh: “Tư tưởng Cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng Cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”.

Ý nghĩa thực hiện Nghị quyết 847 của Quân uỷ Trung ương đối với sĩ quan trẻ hiện nay

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là với sĩ quan trẻ ở đơn vị cơ sở hiện nay. Đây là số sĩ quan trẻ có nhiều triển vọng, tương lai phát triển ở phía trước. Vì vậy, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân uỷ Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, đỏi hỏi sĩ quan trẻ phải quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có năng lực, uy tín, phẩm chất đạo đức, lối sống trong tình hình mới, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ đó, cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau:

Một là, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho sĩ quan trẻ về tầm quan trọng thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hình mẫu tuyệt vời về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nội dung, cách thức, phương pháp mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực tiễn, mang tính thời sự nóng hổi, đặt ra cho sĩ quan trẻ những cách thức, biện pháp rất cụ thể tự mình tu dưỡng, rèn luyện trở thành cán bộ “vừa hồng”, “vừa chuyên”, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội giao phó. Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho sĩ quan trẻ về sự cần thiết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, đó là giới thiệu, phổ biến, tuyên truyền, quán triệt nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đủ năng lực, uy tín lãnh đạo đất nước; Kết luận số 01 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đa dạng hoá nội  dung, hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ đơn vị; tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện Kết luận, yêu cầu của Đảng, Nhà nước, Quân đội về thực hiện các nhiệm vụ được giao, trong đó tập trung nhấn mạnh vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ của sĩ quan trẻ theo chức trách, nhiệm vụ được phân công; biểu dương, khen thưởng đối với sĩ quan trẻ có tinh thần, trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ được tập thể tín nhiệm, ủng hộ; phê bình, nhắc nhở, uốn nắn sĩ quan trẻ có biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, không thường xuyên phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống, kèn cựa, hám danh lợi, thích đánh bóng tên tuổi…

Hai là, chú trọng xây dựng môi trường văn hoá quân sự trong sạch, lành mạnh, giản dị, gần gũi, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Môi trường văn hoá quân sự là tổng thể các mối quan hệ xã hội và những thiết chế văn hoá, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện về mọi mặt, trong đó, chú trọng đến xây dựng các mối quan hệ trong đơn vị thật sự dân chủ, bình đẳng, tôn trọng, yêu thương, giúp đỡ nhau giữa các chủ thể và khách thể. Đó là tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ quan trẻ phát triển, nhất là trong làm việc, cuộc sống, sĩ quan trẻ nào có đam mê, khát vọng, tài năng cần được khơi dậy, phát huy, nhìn nhận, đánh giá đúng năng lực, sở trường và có cơ chế, chính sách hỗ trợ kịp thời; sĩ quan trẻ nào năng lực không nổi trội, hoàn thành nhiệm vụ ở mức bình thường cần có nhận định, đánh giá đúng; thực sự tôn trọng, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của sĩ quan trẻ, trong phạm vi, quyền hạn có thể thì giải quyết nhu cầu, mong muốn cho sĩ quan trẻ; tạo ra sân chơi lành mạnh, không có sự đố kỵ, ganh đua trong đơn vị; kiên quyết đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong sĩ quan trẻ, như thiếu tinh thần, trách nhiệm, vi phạm kỷ luật quân đội, xa ngã vào tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đơn vị; không có động cơ phấn đấu vươn lên, bảo thù, ngồi lê mách lẻo, nói sau lưng đồng chí, đồng đội… Đồng thời, các chủ thể chú trọng xây dựng các thiết chế văn hoá ở đơn vị, đó là cảnh quan đơn vị, hệ thống âm thanh, ánh sáng, các ấn phẩm báo chí, bảo đảm các chế độ, tiêu chuẩn theo đúng quy định của trên cho sĩ quan trẻ, quan tâm đến đời sống, hậu phương gia đình của sĩ quan trẻ.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng đối với sĩ quan trẻ.

Thông qua kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng các cấp phát hiện những sai phạm, xử lý kịp thời những biểu hiện không đúng của sĩ quan trẻ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng phải khách quan, công tâm, không lồng ghép động cơ cá nhân, mục đích không tốt để chèn ép sĩ quan trẻ, không tạo điều kiện cho sĩ quan trẻ phấn đấu vươn lên; xác định có trọng tâm, trọng điểm nội dung kiểm tra, giám sát; quán triệt phương trâm kiểm tra, giám sát của Đảng: Nghiêm minh, chặt chẽ, công bằng, nắm vững thứ tự, thủ tục, trình tự các bước kiểm tra, giám sát; kiểm tra, giám sát mang tính giáo dục, nhân văn, có tình, có lý, vì sự tiến bộ, trưởng thành của sĩ quan trẻ.

Bốn là, từng sĩ quan trẻ phải không ngừng phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện thường xuyên về đạo đức, lối sống.

Hiện nay, trước cám dỗ của lợi ích vật chất, tiền tài, địa vị ở bên ngoài xã hội rất lớn, Quân đội là một tổ chức chính trị - xã hội, không nằm ngoài sự cám dỗ đó. Để có một “rào chắn”, “màng lọc” vững chắc, từng sĩ quan trẻ phải giữ mình, không ai có thể làm thay, làm hộ tốt hơn bằng chính sự nhận thức và chuyển hoá thành hành động thiết thực, cụ thể của sĩ quan trẻ. Từng sĩ quan trẻ phải tự giác tu dưỡng rèn luyện về mọi mặt, nhận thấy chỗ nào còn yếu, chưa đáp ứng được tự mình nghiên cứu, bổ sung tri thức; không tự bằng lòng với kiến thức hiện có; có lối sống giản dị, khiêm tốn, cầu tiến bộ, đặt mình vào tổ chức, biết mình là ai, mình đang ở đâu; bình tĩnh trong giải quyết, xử lý tình huống, sự việc; không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác với chính bản thân mình; vượt qua chính mình, nhất là những tác động tiêu cực của xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân mãi là kim chỉ nam định hướng hành động cách mạng của Đảng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải quán triệt và tự mình điều chỉnh hành vi, thái độ phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tự mình chiến thắng chính bản thân mình, đó chính là phương thuốc hữu hiệu nhất để chữa lành vết thương, cũng là biện pháp quan trọng đưa Nghị quyết 847 của Quân uỷ Trung ương về Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đi vào thực tiễn cuộc sống, khơi dậy ý chí, khát vọng của sĩ quan trẻ vào sự nghiệp xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại vào năm 2025.

 N.X.Đ - K3

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2022

QUAN ĐIỂM ĐỐI NGOẠI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận hợp thành trong hệ thống tư tưởng cách mạng của Người, trong đó bao gồm hệ thống những quan điểm của Người về quốc tế và những hình thức, biện pháp, nghệ thuật xử sự trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động đối ngoại rất rộng lớn và sâu sắc, có thể khai thác từ nhiều góc độ khác nhau. Đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học, lý luận và thực tiễn trong tư tưởng của Người. Những tư tưởng của Người luôn là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và nền ngoại giao nói riêng phát triển, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn chuyên gia Liên Xô sang giúp đỡ công tác chuyên môn cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tại Hà Nội, ngày 22-3-1960. Ảnh tư liệu/nguồn tuyengiao.vn.

Nhận thức về kẻ thù và bạn đồng minh của cách mạng Việt Nam: Với nhận thức và sự mẫn cảm chính trị của mình, Nguyễn Ái Quốc nhận ra khả năng và điều kiện liên minh các lực lượng bị áp bức trên thế giới chống chủ nghĩa thực dân, khả năng đoàn kết quốc tế của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mình. Người nhận định: “Trong cuộc chiến đấu của chúng ta, chúng ta không cô độc vì chúng ta có tất cả dân tộc của chúng ta ủng hộ và những người Pháp dân chủ, những người Pháp chân chính, đứng bên cạnh chúng ta”. Đây là một trong những cơ sở để Nguyễn Ái Quốc về nhận thức vượt qua tầm nhìn hạn chế, ảo tưởng mong chờ sự giúp đỡ của các chính phủ đế quốc trong cuộc đấu tranh giải phóng từng tồn tại ở một số nhà yêu nước khác cùng thời.

Quan điêm độc lập tự chủ trong đoàn kết hợp tác quốc tế của Hồ Chí Minh được thể hiện qua tư duy độc lập và sự nhạy cảm về chính trị trong phân tích, phát hiện những giá trị tốt đẹp của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc truyền thống; thể hiện nhận thức mới về sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc; nhận thức mới về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam trong hoàn cảnh phong trào giải phhongs dân tộc phát triển mạnh mẽ trên phạm vi quốc tế. Hồ Chí Minh giải thích: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Điều đó có nghĩa, dân tộc Việt Nam phải tự mình hoạch định đường lối, chính sách đối nội và đối ngoại, phải vạch rõ những phương pháp và biện pháp riêng của mình.

Quan điểm gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Hồ Chí Minh là người đầu tiên xác định và thực thi quan điểm gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới. Việc đặt cách mạng Việt Nam thành một bộ phận của trào lưu cách mạng thế giới vừa tạo cơ sở xây dựng quan hệ hữu nghị và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế; vừa thể hiện ý thức trách nhiệm của nhân dân Việt Nam đối với phong trào cách mạng thế giới. Người chỉ rõ: “Sự giúp đỡ của các nước bạn là quan trọng, nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.

Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được dư luận thế giới đánh giá cao. Giáo sư Nhật Bản Singô Sibata, đánh giá Hồ Chí Minh “đã đặc biệt làm sâu sắc thêm lý luận về vấn đề dân chủ, quyền dân tộc tự quyết và những quyền dân tộc cơ bản”. Hồ Chí Minh là một biểu tượng nổi bật về tinh thần quả cảm của dân tộc bởi Người đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước và giải phóng dân tộc Việt Nam, qua đó góp phần vào cuộc đấu tranh chung của toàn nhân loại vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.../.

N.T.Q, N.V.N - H3, K3

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

HỌC TẬP VÀ THẤM NHUẦN SÂU SẮC HƠN NỮA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn diện và phong phú bao quát hầu hết các khía cạnh của đời sống đạo đức xã hội. Bài viết này chỉ đề cập đến những quan điểm cơ bản nhất trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có liên quan đến giáo dục đạo đức đang diễn ra hiện nay.

1. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám , Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, người cán bộ, đảng viên thành người có chức, có quyền. Quyền lực là một nhân tố dễ làm tha hóa, biến chất con người. Sớm tiên lượng vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những căn bệnh của người có chức, có quyền và đặt lên hàng đầu việc giáo dục, rèn luyện đạo đức. Người nhắc nhở: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến Chính phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá, mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người trong công sở phải lấy chữ LIÊM làm đầu”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội (CNXH) chưa phải ở mức sống vật chất cao mà trước hết là ở giá trị đạo đức của nó, ở phẩm chất cao đẹp của những người cộng sản. Hồ Chí Minh thường nêu tấm gương đạo đức của V.I. Lê-nin để nói về ảnh hưởng lớn lao của đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy cách mạng đối với các dân tộc châu á, đã khiến cho trái tim họ hướng về lãnh tụ cách mạng tháng Mười Nga không gì ngăn cản nổi. Ngày nay, nếu cán bộ, đảng viên chúng ta để mất đi những giá trị đó, chẳng những sẽ làm mất đi sức hấp dẫn của CNXH mà còn là nguy cơ đối với Đảng và chế độ, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta đã cảnh báo.

2. Đạo đức cách mạng và chính trị cách mạng phải luôn luôn thống nhất với nhau

Đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí Minh, là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng... Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Như vậy, đạo đức cách mạng là để phục vụ sự nghiệp chính trị cao cả: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Sự nghiệp chính trị đó mang giá trị đạo đức cao cả. Do đó, chính trị và đạo đức dưới chế độ ta luôn luôn thống nhất với nhau. Đạo đức để phục vụ sự nghiệp chính trị, người hoạt động chính trị phải có đạo đức.

Nhờ kiên trì giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đại bộ phận cán bộ, đảng viên, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã nêu cao tinh thần tận tụy, trách nhiệm và đạo đức trong sạch của người cách mạng, xứng đáng là “công bộc”của dân, góp phần làm cho uy tín chính trị và uy tín đạo đức của Chính phủ Cụ Hồ thêm toả sáng. Một nền chính trị liêm khiết đã làm cho chính quyền cách mạng trở nên mạnh mẽ và sáng suốt, vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, giữ vững thành quả cách mạng.

Hiện nay, sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong xã hội ta đang có nguy cơ bị phá vỡ; nghĩa là đang có mâu thuẫn giữa tư tưởng đạo đức cách mạng, giữa mục tiêu chính trị cuối cùng với hoạt động chính trị thực tiễn của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Số người này đã lợi dụng chức quyền để trục lợi, làm ô danh Đảng, làm mất niềm tin của nhân dân vào bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN. Những hành vi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết,... của họ không còn dừng lại ở phạm vi đạo đức cá nhân mà đã trở thành những vấn đề chính trị - xã hội nghiêm trọng, có quan hệ đến an nguy của chế độ.

3. Đạo đức cách mạng đòi hỏi sự thống nhất giữa động cơ và hiệu quả, giữa nói và làm, giữa đạo đức và tài năng

Đạo đức Hồ Chí Minh không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, tức là đạo đức trong hành động. Đã là hành động, nhất là hành động cách mạng, phải chú trọng đến hiệu quả. Nếu làm việc gì cũng không có hiệu quả thì không thể coi là một người có đạo đức. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất”. Thống nhất giữa động cơ và hiệu quả đòi hỏi phải thống nhất giữa nói và làm, tức là phải chống bệnh nói suông, chỉ nói mà không làm, hoặc nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo,... Hiện nay, khi việc “thương mại hóa” tình người và các quan hệ xã hội đang có chiều hướng gia tăng, ta cần phải hết sức cảnh giác với căn bệnh “nói không đi đôi với làm”. Trên thương trường có lối quảng cáo “một tấc đến trời”; nơi công sở cũng có một số người luôn sống với hai nhân cách. Trong hội họp, họ thường nói rất hay về nhân ái, liêm chính, lương tâm,... nhưng trong thực tế hành động thì làm ngược lại. Có một số ít vị “thủ trưởng”- như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán - “chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”2; nghĩa là chỉ quen chỉ thị, đề xuất, nói rồi quên, nói cao giọng mà không tính đến các điều kiện thực tế, đến khả năng thực thi của chính mình. Hình như họ nói cốt để cho người khác làm, còn chính mình lại không quyết tâm theo đuổi, chỉ đạo thực hiện đến cùng một công việc nào đó. Thành ra, có nhiều chủ trương không đi vào cuộc sống, không đem lại chuyển biến đáng kể trong thực tế, làm giảm niềm tin của dân, gây ra những hoài nghi không đáng có.

Ở Hồ Chí Minh, hiệu quả hành động gắn liền với tài năng. Nói chuyện với thanh niên, Người nói: “... thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”. Như vậy, trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài thống nhất làm một, phẩm chất và năng lực là một, trong đó đức là gốc của tài, tài là sự thể hiện của đức trong hiệu quả hành động. Ta hiểu, vì sao Hồ Chí Minh vừa rất coi trọng đạo đức lại vừa rất nhấn mạnh tài năng. Người thấy rõ, không có tài thì cách mạng không thể thắng lợi được.Vì vậy, Người rất quý trọng nhân tài, có chính sách thu phục và trọng dụng nhân tài. Bài học tập hợp, tin dùng trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi ta vừa giành được chính quyền vẫn đang có ý nghĩa thời sự nóng hổi, đòi hỏi chúng ta cần vận dụng tốt để sao cho các nhân tài ở trong Đảng hay ngoài Đảng, ở trong nước hay còn ở ngoài nước đều được tập hợp, trọng dụng, chung sức, chung lòng xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

4. Đạo đức cách mạng thống nhất với đạo đức đời thường

Ở Hồ Chí Minh không có sự phân biệt giữa đạo đức cách mạng với đạo đức đời thường. Người dùng khái niệm đạo đức cách mạng để phân biệt đạo đức mới trong thời kỳ đấu tranh cách mạng với đạo đức cũ chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị, chứ không phải coi đó là hai cấp độ đạo đức khác nhau, áp dụng cho hai loại người khác nhau. Hoàn cảnh đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh đòi hỏi ở người cách mạng phải có sự tu dưỡng đạo đức sâu sắc hơn, một bản lĩnh đạo đức kiên cường,  để: “không tham giàu sang, không ngại gian khổ, không sợ uy quyền”.

Trong “ba không” ấy, thực tế cũng cho thấy nhiều khi người chiến sĩ cách mạng có thể dễ dàng vượt qua được uy vũ của kẻ thù, vượt qua được cực khổ, bần hàn, nhưng lại khó vượt qua được thử thách của vật chất, danh vị, tiền tài, gái đẹp,... Là một nhà cách mạng từng trải, rất lịch lãm về nhân tình thế sự, Hồ Chí Minh thấu hiểu được chỗ mạnh, chỗ yếu của con người. Trên trang đầu cuốn Đường kách mệnh, bàn về tư cách của người cách mạng, Hồ Chí Minh đâu có nói về những điều to tát, chữ nghĩa cao siêu. Người chỉ bắt đầu bằng những yêu cầu rất giản dị, gần gũi của đời thường: “Tự mình phải: Cần kiệm,... Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm,... ít lòng tham muốn về vật chất”. Tiếp theo, trong bài Người cách mạng mẫu mực, viết năm 1926, Người lại đưa ra 12 điều, trong đó nhắc nhở người cách mạng phải “xem thường danh vị, ngôi thứ và tiền bạc, vì chúng là cội nguồn sinh ra đố kỵ và  hận thù và là nguyên nhân của những hành động chỉ điểm, phản bội làm tổn hại nghiêm trọng đến sự nghiệp cách mạng”2.

Cũng như các trường phái đạo đức học tiến bộ trong lịch sử, khi bàn về hạnh phúc và hưởng thụ, Hồ Chí Minh thường vẫn dành vị trí ưu tiên cho những giá trị đạo đức - tinh thần so với các giá trị vật chất. Người đã nhiều lần nói rõ cái hữu hạn của sinh hoạt vật chất so với cái vô hạn của giá trị tinh thần: “Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo. Nhưng sinh hoạt vật chất hết đời người là hết, còn tiếng tăm xấu hay tốt còn truyền đến ngàn đời sau”3. Người kiên trì nhắc nhở chúng ta: đã là người cách mạng phải sẵn sàng chịu đựng những thiệt thòi về vật chất để theo đuổi những giá trị tinh thần cao quý như liêm khiết, công bằng, chính trực,... để xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong, gương mẫu của Đảng.

Tiếc thay, hiện nay có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã không theo được lời nhắc nhở đó. Họ đã bị chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chủ nghĩa cơ hội thực dụng, lối sống buông thả, chạy theo các dục vọng vật chất thấp hèn,... chi phối. Họ đã vì đồng tiền mà bước qua pháp luật, đánh mất phẩm giá, mất luôn cả sinh mệnh chính trị, cả sự nghiệp đã theo đuổi một đời người!

5. Giáo dục đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu: tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa,...”. Do đó, Đảng phải tiến hành giáo dục đạo đức cách mạng cho họ. Người thường xuyên nhắc nhở và chính Người đã kiên trì, liên tục thực hiện công việc quan trọng này; đặc biệt, ở những thời kỳ có tính bước ngoặt: cách mạng thắng lợi hay chuyển giai đoạn, từ chiến tranh sang hòa bình, từ nông thôn vào thành thị,... Người cũng đề ra những yêu cầu đạo đức trong mỗi lĩnh vực hoạt động của con người: học tập, lao động, sản xuất, chiến đấu; trong các mối quan hệ chủ yếu: đối với mình, đối với người, đối với việc, từ gia đình đến xã hội, từ Tổ quốc, nhân dân đến nhân loại.

 Ở Hồ Chí Minh luôn luôn có sự nhất quán giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và thực hành đạo đức. Bởi lẽ, đạo đức vừa là một hình thái ý thức, vừa là một hình thái hoạt động, nó là sự thống nhất có mâu thuẫn giữa hai mặt đó, tức là giữa ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, giữa nhận thức và hành động. Vì vậy, vai trò của giáo dục đạo đức là vô cùng quan trọng. Đó là quá trình nội tâm hóa những quy phạm đạo đức của xã hội thành hành động tự giác của mỗi cá nhân. Bộ mặt đạo đức xã hội như thế nào, xét đến cùng, được quyết định bởi việc giáo dục đạo đức của xã hội ấy làm có hiệu quả hay không.

Muốn đạt hiệu quả, giáo dục đạo đức không thể chỉ dừng lại ở bồi dưỡng ý thức đạo đức đơn thuần, ở thuyết giảng đạo đức suông. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở rằng, giáo dục thanh niên không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay là những phép tắc đạo đức. Người đòi hỏi giáo dục đạo đức phải đi liền với tổ chức hành động, trong quá trình hành động lặp đi lặp lại, hành vi đạo đức sẽ thành thói quen, rồi tiến dần thành phẩm chất, thành niềm tin đạo đức của cá nhân.

Trong giáo dục đạo đức, việc nêu gương sáng của người lãnh đạo có vai trò cực kỳ quan trọng, bởi quần chúng sẽ soi vào đó mong tìm thấy lý tưởng chính trị, lý tưởng đạo đức của Đảng và chế độ ta, để học tập và làm theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”.

Những tư tưởng lớn trên đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cần được chúng ta tiếp tục nghiên cứu và quán triệt sâu sắc hơn nữa trong việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đang diễn ra hiện nay. Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, theo đúng tinh thần Hồ Chí Minh, không phải chỉ để giải quyết vấn đề nhận thức mà cái chính là phải tổ chức hành động. Chúng ta tin tưởng rằng, với quyết tâm mới và cách làm mới, việc học tập và làm theo sẽ đạt được kết quả mong đợi: đẩy lùi được tiêu cực, hình thành được nền nếp tu dưỡng, rèn luyện và giáo dục đạo đức ở trong Đảng và ngoài xã hội, từng bước làm cho xã hội ta tiến tới là một xã hội đạo đức và văn minh./.

NXC-H1

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2021

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH QUAN LIÊU, VÔ CẢM VỚI NHÂN DÂN

 

Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Cán bộ, đảng viên đặc biệt là những người lãnh đạo nào mắc phải bệnh này thì “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Bệnh quan liêu không chỉ là sự sai lầm về tác phong, phương pháp công tác mà xét về bản chất là sự tha hóa quyền lực của cơ quan công quyền, là hệ quả của sự suy thoái lập trường tư tưởng, chính trị, đạo đức cách mạng.

Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện cụ thể của bệnh quan liêu: chỉ đạo xa rời thực tế, xa quần chúng; áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn, coi thường quần chúng… Cán bộ, đảng viên mắc bệnh quan liêu “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”.

Quan liêu, xa rời, không yêu thương nhân dân tất yếu dẫn đến và làm cho căn bệnh vô cảm trước nhân dân của cán bộ, đảng viên càng ngày càng trầm trọng. Người nhiều lần phê phán thái độ thờ ơ, tắc trách, thiếu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân, thấy việc có lợi cho dân không dám làm, việc có hại cho dân vẫn làm ngơ, không giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Bên cạnh đó, là khuynh hướng lãnh đạo cứng nhắc, trì trệ, thụ động; bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, gây phiền phức, nhũng nhiễu dân chúng. Với những cán bộ, đảng viên mắc bệnh vô cảm, họ thờ ơ với việc chung, “chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí”, “không phê bình, không tự phê bình”, “sao cũng mặc kệ, sao cho xong chuyện thì thôi”. Đó là sự “ươn hèn yếu ớt” trước sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Người gọi đó là “bọn thứ ba” mà hậu quả tai hại dẫn đến “để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng. Nó để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”. Nguy hại nhất của tệ quan liêu, bệnh vô cảm “đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”; là “nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí”.

Với tác hại to lớn như vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên “Ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”. Để chữa bệnh, Người đã kê ra một “đơn thuốc”  với “cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”. Bản thân Hồ Chí Minh là mẫu mực của lãnh tụ thương dân, gần dân, hiểu dân, kính dân, trọng dân, một người trọn đời thực hiện nhất quán nguyên tắc “theo đúng đường lối nhân dân”.

Để chống bệnh quan liêu, xa dân, Người còn căn dặn: phải đồng tâm hiệp lực phải kiên trì, quyết tâm chống đến cùng, phải làm có tổ chức, làm từ trên xuống dưới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, hoạt động theo tinh thần “chú trọng thực tế, nỗ lực làm việc, phụng sự nhân dân”. Bên cạnh giáo dục tư tưởng, rèn luyện đạo đức, khuyến khích cán bộ, đảng viên tận tụy phục vụ nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, thực hành kỷ luật nghiêm minh, xử lý bằng pháp luật đối với những người vi phạm; phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu… làm cho nó hết chỗ ẩn nấp. Đồng thời phải “khéo kiểm soát”, bởi “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi. Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”...

NĐV - H2

 

“Nhờ ai ta có hòa bình? Nhờ người chiến sĩ quên mình vì dân”

“Nhờ ai ta có hòa bình?

Nhờ người chiến sĩ quên mình vì dân” 

Câu thơ trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Nhờ ai ta có hòa bình”, báo Nhân dân, số 273, ngày 26 tháng 11 năm 1954, bút danh “C.B”.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954 là thắng lợi to lớn nhất của quân đội và nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi này đã tạo một bước ngoặt quan trọng trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam, đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt cuộc sự đô hộ của thực dân Pháp; miền Bắc được giải phóng, bắt tay vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo cơ sở, hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào năm 1975.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. Trong quá trình đó, danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ" được hình thành một cách tự nhiên, được nhân dân ghi nhận và trao tặng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” tỏa sáng, được lưu giữ trong lòng dân, đi vào đời sống xã hội và lịch sử dân tộc là phần thưởng cao quý đối với Quân đội và trở thành một trong những giá trị tiêu biểu của thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Điều đặc biệt là, niềm vinh dự lớn lao đó chỉ có thể có được với một quân đội cách mạng "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu", không quản ngại gian khổ, hy sinh, luôn đi đầu trên trận tuyến chống kẻ thù xâm lược để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc, cô đúc ngay trong lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Việc xây dựng và phát huy cho được hình ảnh người quân nhân cách mạng - “Bộ đội Cụ Hồ” với những đặc trưng tiêu biểu phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình - Nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 vô cùng cấp bách. Thời gian qua, vấn đề này đã được thể hiện rõ qua bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao của từng cán bộ chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19 đòi hỏi Quân đội ta phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì nhiệm vụ phòng, chống dịch. Đây chính là giá trị cốt lõi, vừa là bản chất, vừa là truyền thống quý báu của Quân đội ta và được nâng lên một tầm cao mới. Hiện nay, toàn quân tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong phòng, chống dịch COVID-19 với tinh thần “chống dịch như chống giặc”.

Trong những ngày tháng gian lao chung sức với Nhân dân và cả hệ thống chính trị dưới dự lãnh đạo của Đảng, hơn ai khác và không ai khác, các cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh các thế lực thù địch lợi dụng dịch COVID-19 để chống phá cách mạng Việt Nam mà còn luôn có động cơ trong sáng, trách nhiệm cao và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19 do Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Chưa bao giờ phẩm chất và hình ảnh cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ trong phòng, chống dịch COVID-19 lại xuất hiện với tần suất lớn trên truyền thông, báo chí, mạng xã hội và những câu chuyện đời thường nhiều như lúc này! Đánh giá về vấn đề này nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc 9 đã nhấn mạnh: “Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là trụ cột của quốc gia, đặc biệt là khi đất nước lâm nguy thì vai trò của Quân đội càng được phát huy mạnh mẽ. Quân đội nhân dân Việt Nam là Quân đội Anh hùng; hiện đang đứng mũi, chịu sào nơi đầu sóng, ngọn gió trong trận tuyến phòng, chống COVID-19”. Đó chính là sự ghi nhận của người đứng đầu Chính phủ về những đóng góp của Quân đội; đồng thời cũng là biểu hiện cao nhất trong thang giá trị của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19 hiện nay./.

 N.T.Q - H3

Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG “GIẶC Ở TRONG LÒNG” THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

V.I.Lênin từng nói: “Không có kẻ thù nào, dù là hung bạo nhất, có thể chiến thắng được những người Cộng sản, ngoại trừ chính họ tự tan rã, chính những lỗi lầm của họ và họ không kịp sửa chữa”. Đó có thể xem như là “lời di chúc” cho tất cả những người Cộng sản trên toàn thế giới phải luôn tự răn mình, để thường xuyên tự đổi mới, tự chính đốn; để kiên quyết loại trừ những con người nhạt phai lý tưởng, “tự diễn biến” và dẫn đến tự chuyển hóa. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản nhất, là gốc rễ của sự sụp đổ của “người anh cả của CNXH” lại xuất phát từ chính “kẻ thù nội tại” là sự “tự diễn biến” và dẫn đến “tự chuyển hóa” và sụp đổ; cần lưu ý rằng Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không thông qua một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Quán triệt quan điểm của Lênin, ngay từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ "giặc ở trong lòng". Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Vì vậy, chiến sĩ và nhân dân phải hăng hái tham gia phong trào ấy.”[1]Đây chính là sự dự báo, định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng xã hội mới.

Theo quan điểm của Người, kẻ thù đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất, khó chiến thắng nhất lại chính là những kẻ thù ngay trong lòng ta, kẻ thù giấu mặt, những thứ “giặc nội xâm”. Những loại này nằm lẩn khuất trong nội bộ, rình rập trong chính mỗi người, nếu chúng ta mất cảnh giác hoặc do dự, ngập ngừng hay dao động, hay thiếu kiên quyết. Nguy hiểm hơn đây là thứ kẻ thù rất khó nhận biết chúng, vì chúng biến ảo khôn lường: Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa thực dụng và đặc biệt là “chủ nghĩa quay giáo, trở cờ”… được ngụy trang, trá hình dưới muôn vàn màu sắc và giặc nội xâm cần phải xác định là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, cần phải nhận diện đúng để có kế sách đối phó, bảo đảm chiến đấu và thắng lợi trước chúng.

Trên thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những người giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với các biểu hiện khác nhau như: Thờ ơ, dao động về tư tưởng chính trị, bàng quan trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc, trước khó khăn của đất nước, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu niềm tin vào Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người trước đây từng giữ cương vị, trọng trách trong các cơ quan đảng, chính quyền có những ý kiến lệch lạc, nhìn nhận phê phán lịch sử thiếu khách quan, toàn diện, đòi đa nguyên, đa đảng, công khai đả kích, phủ nhận những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, cộng tác với thế lực thù địch, phản bội lại lợi ích dân tộc.

Để chủ động đấu tranh, xử lý triệt để, có hiệu quả loại giặc này, cần phải có sự đoàn kết, chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mà trước hết cần phải thực hiện tốt các giải pháp sau đây:

1. Kiên quyết cắt bỏ những khối ung nhọt trên cơ thể của ta, dù rất đau đơn nhưng đó là việc cấp bách nên làm và phải làm để về lâu về dài chúng ta có một cơ thể khỏe mạnh, đủ sức đề kháng trước mọi loại “vi trùng, vi khuẩn”. Đưa bọn “giặc nội xâm” vào nung trong lò “đốt suy thoái” của Đảng ta, không kể chúng là ai, giữ chức vụ gì.

2. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị nước ta. Vì, những biểu hiện xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ là nguy cơ rất khó lường, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

3. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch.

 Cổ nhân có câu: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, có nghĩa là nghĩa là: nước nhà lúc hưng thịnh hay lúc suy vong, một người dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng cho vận mệnh đất nước; có nghĩa là “phải khoan thư sức dân”, gần gủi với nhân dân, khơi gợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân để tạo thành sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là mấu chốt của mọi sự thành bại trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc ta và ngay trong thời đại Hồ Chí Minh thì tinh thần ấy được thể hiện càng rõ nét hơn; dưới chủ trương “đại đoàn kết” của Đảng và Bác Hồ thì Đảng gắn bó máu thịt với dân, vì dân quên mình, vì dân mà chiến đấu hy sinh; dân tin tưởng và ủng hộ tuyệt đối vào Đảng, đó là cuội nguồn của mọi thắng lợi.

 Kiên quyết diệt giặc nội xâm; đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ triệt tiêu được “mảnh đất mầu mỡ”, triệt được cái cớ để các thế lực thù địch, bọn phản động vin vào để chống phá ta, góp phần giữ vững sự ổn định xã hội, đưa xã hội phát triển vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

                                                                                  NXT-H1

 



[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.2011, tr.362

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

“MUỐN CHO DÂN YÊU, MUỐN ĐƯỢC LÒNG DÂN, VIỆC GÌ CÓ LỢI CHO DÂN PHẢI HẾT SỨC LÀM, VIỆC GÌ CÓ HẠI CHO DÂN PHẢI HẾT SỨC TRÁNH”

 


Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Sao cho được lòng dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng Báo Cứu quốc, số 65, ngày 12 tháng 10 năm 1945.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc ta; song Chính phủ mới gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Thù trong, giặc ngoài, điên cuồng quấy phá, tìm mọi cách lật đổ chính quyền non trẻ của chúng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sao cho được lòng dân” để căn dặn các cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an của chính quyền mới phải luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên, lên trước, việc gì có lợi cho dân phải kiên quyết làm, làm cho bằng tốt. Theo quan điểm của Bác, một nhà nước thật sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân phải coi việc phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân là mục tiêu, phương hướng hoạt động của mình. Người chỉ rõ: Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đầy tớ của nhân dân.

Thấu triệt quan điểm của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán và triển khai quyết liệt, đồng bộ chủ trương xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được mở rộng và phát huy, một số chính sách và quy chế bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, trước hết ở cơ sở, bước đầu được mở rộng, thực hiện. Đáng chú ý là hệ thống pháp luật được đổi mới, bổ sung và tăng cường, chất lượng các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp được nâng cao; phương thức quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước sâu sát, thực tế hơn, tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong xã hội, các hoạt động của ngành tư pháp, toà án, viện kiểm sát có nhiều tiến bộ… Việc đổi mới nhà nước đúng định hướng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, lành mạnh hoá các mặt văn hoá, xã hội, giữ vững sự ổn định lâu dài của đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam – một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, đã không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giải phóng đất nước, giải phóng nhân dân khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng, hết sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, giúp dân xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống thiên tai, thảm hoạ, cứu hộ, cứu nạn, đồng hành cùng ngư dân nơi đầu sóng ngọn gió, nơi phên dậu của Tổ quốc… đã góp phần cùng với cả hệ thống chính trị xây dựng “Thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc, giữ vững và không ngừng phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới.

ĐAK-H2

“THI ĐUA DẠY TỐT VÀ HỌC TỐT” THEO LỜI HỒ CHỦ TỊCH

     Trong thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân, nhân viên, học sinh, sinh viên ngành giáo dục nhân dịp bắt đầu năm học mới, đăng trên báo Nhân Dân, số 5299, ngày 16-10-1968, bức thư cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho ngành giáo dục nước nhà. Người yêu cầu: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Giáo dục là đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng, do đó các ngành, các cấp đảng và chính quyền địa phương phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 15, 2011: 507). Có thế thấy, đây là sự quan tâm ân cần, đặc biệt, với bao tâm huyết, kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho ngành giáo dục nước nhà để chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cao cho công cuộc kiến thiết đất nước. Đồng thời, là tầm nhìn xa, trông rộng của bậc vĩ nhân, vị cha già của dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi theo Người: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ nghĩa”. “Con người mới, tư tưởng mới” đó đều nhờ giáo dục mà nên.

          Quán triệt sâu sắc tư tưởng, lời dạy trên của Người, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng của việc dạy và học hay nói cách khác là vai trò của giáo dục và đào tạo. “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển lâu dài”. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, phát huy mọi tiềm năng của con người. Đồng thời, thực hiện tốt phong trào thi đua trong cả nước nói chung và toàn ngành giáo dục nói riêng theo lời huấn thị của Hồ Chủ tịch: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “...khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc...Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”, đồng thời “...tạo tiền đề và đảm bảo điều kiện thuận lợi để mỗi người dân có cơ hội được thụ hưởng công bằng thành quả của nên giáo dục” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập I, 2021: 137). Đây là chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng nhằm đẩy mạnh gắn kết xã hội, tạo tiền đề khơi dậy tinh thần học tập của mọi chủ thể, hướng tới phát huy cao nhất giá trị, tiềm năng của mỗi cá nhân vào công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung.

Khắc ghi lời Bác Hồ dạy, đội ngũ nhà giáo, cán bộ, người lao động, học sinh, sinh viên, học viên ngành Giáo dục không ngừng nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo, chung sức, đồng lòng xây dựng nền giáo dục nước nhà vững mạnh. Đồng thời, ra sức phấn đấu thực hiện tốt phong trào thi đua năm học với chủ đề” “Toàn ngành Giáo dục đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng chống và chiến thắng đại dịch Covid-19, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học 2021 - 2022”. Với phương châm: Vừa chủ động, linh hoạt thực hiện các giải pháp ứng phó với đại dịch Covid-19, vừa phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ năm học, tiếp tục thực hiện đổi mới, kiên trì mục tiêu chất lượng giáo dục và đào tạo. Góp phần đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xu thế hội nhập, phát triển, toàn cầu hóa như hiện nay. 

Với những thành tích đã đạt được ngay từ ngày đầu, tháng đầu năm học mới 2021 - 2022; cùng với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm cao, dân chủ, trí tuệ, sáng tạo sẽ là động lực để toàn ngành giáo dục tiếp tục phấn đấu, quyết tâm thi đua hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm học 2021 - 2022.     

N.T.Q - H3



 

Thứ Ba, 12 tháng 10, 2021

TƯ TƯỞNG “NHẬN DIỆN TỪ SỚM, ĐẤU TRANH TỪ XA” TRONG BÀI VIẾT “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

 

Bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là bài viết hết sức quan trọng, không những được dư luận trong nước hoan nghênh, đón nhận, mà còn được các học giả quốc tế rất quan tâm, chú ý và đề cao. Bằng lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động, bài viết đã khẳng định đanh thép con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn, đang xây dựng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đòi hỏi khách quan của lịch sử và sự lựa chọn của nhân loại tiến bộ, dù trên con đường đó có không ít chông gai, thử thách.

Bài viết đã đưa ra nhiều tư tưởng rất có giá trị cả mặt lý luận và thực tiễn, nhiều vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó, tư tưởng: Nhận diện từ sớm, đấu tranh từ xa, chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính có ý nghĩa hết sức to lớn trong đấu tranh, phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của địch hiện nay.

Trong bài viết, sau khi đề cập đến những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước, Tổng Bí thư tiếp tục chỉ ra sự chống phá, can thiệp, âm mưu “diễn biến hòa bình” tiếp tục là một trong những nguy cơ, trở lực của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta đã chỉ ra từ nhiều kỳ đại hội trước. Thực tế cho thấy, hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch là một trong những nội dung chính trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Do tính chất thâm độc, hậu quả nghiêm trọng, lâu dài, phương thức, thủ đoạn khó lường, khó nhận diện của nó nên chúng ta không được phép chủ quan, mất cảnh giác, không để bị tiêm nhiễm yếu tố độc hại vào tư tưởng, tình cảm, niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân rồi mới triển khai biện pháp phòng, chống. Chúng ta phải đi trước một bước, phải có biện pháp phòng ngừa, triệt tiêu cái nguy cơ, mối đe dọa từ gốc, từ sớm, từ xa, đấu tranh bằng cả chính trị và khoa học - kỹ thuật, vừa trước mắt, vừa lâu dài, đấu tranh từ trong nước đến tận trung tâm phá hoại, sào huyệt của các thế lực thù địch ở bên ngoài.

Các ban, ngành chức năng, đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác đấu tranh, phản bác cần phải thường xuyên nghiên cứu, nhận diện, phát hiện sớm những phương thức, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch để kịp thời tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân biết để nâng cao cảnh giác, không tin theo, nghe theo những luận điệu đó. Không chỉ đấu tranh, phản bác các quan điểm phản động, thù địch mà còn phải nhận diện kịp thời và đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm lập lờ, sai trái, thật giả lẫn lộn của các đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các phần tử thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn. Cần phải cô lập, chia cắt mối liên hệ giữa các thế lực thù địch với các phần tử này trong nội bộ để phá thế “nội công, ngoại kích”, “tác động chuyển hóa” theo ý đồ của chúng.

Đi đôi với việc chủ động tổ chức các hình thức đấu tranh, phản bác, các tổ chức đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang từ cấp cơ sở đến Trung ương cần xác định trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng thì phòng ngừa, bảo vệ nội bộ, bảo vệ bên trong là chính. Cần thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng, tinh thần cảnh giác cho đảng viên, cán bộ và nhân dân, coi đây là pháo đài không thể công phá. Cần lồng ghép vấn đề phòng ngừa, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với các phong trào cách mạng, phong trào thi đua yêu nước ở các đơn vị, địa phương, triển khai đến từng người, từng gia đình ở khu dân cư, tổ dân phố, các tổ chức chính trị - xã hội để làm tốt công tác phòng ngừa trước sự tác động của các thông tin xấu, độc. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và những cá nhân có uy tín tiếp tục tăng cường đăng tải, công bố những bài viết, bài phát biểu để tuyên truyền, động viên, khích lệ, củng cố, tăng cường và lan tỏa niềm tin, tình cảm thiêng liêng đến đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân vào những thời điểm thích hợp.

 Quán triệt và nắm chắc tư tưởng nhận diện từ sớm, đấu tranh từ xa trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa vô cùng to lớn, là cơ sở để đề ra các chủ trương biện pháp làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng nước ta./.

ĐHQ-H2

 

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG BÀI PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TẠI HỘI NGHỊ SƠ KẾT 5 NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 05-CT/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỚI TIÊU ĐỀ “RA SỨC HỌC TẬP, NỖ LỰC PHẤN ĐẤU VÀ RÈN LUYỆN, KHÔNG NGỪNG LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC VÀ PHONG CÁCH CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH”

 

Theo Tổng Bí thư, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và Nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng, dẫn dắt mỗi bước đi lên và thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta, trước hết là các tổ chức đảng, các cơ quan Nhà nước và cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện, cống hiến, phụng sự đất nước, phục vụ Nhân dân.

Tổng Bí thư đánh giá: việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, khá toàn diện, với nhiều cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, tạo chuyển biến mạnh mẽ, tích cực, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng và toàn xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thực hiện Chỉ thị số 05 vẫn còn không ít hạn chế, cần được khắc phục.

Đó là: công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có nơi, có lúc chưa quyết liệt, chưa kịp thời, chưa sát thực tế, chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Việc cam kết tu dưỡng, rèn luyện, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệu quả chưa cao. Việc xác định khâu đột phá có nơi còn lúng túng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc còn bị động. Việc phát hiện, biểu dương các tập thể, cá nhân điển hình trong học tập và làm theo Bác chưa kịp thời, chưa đầy đủ; việc tuyên truyền, quảng bá, cổ vũ những gương người tốt, việc tốt nhiều lúc còn thiếu sức thuyết phục. Công tác đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ; việc tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc còn làm qua loa, chiếu lệ, hình thức; tình trạng thiếu tự giác nhận khuyết điểm, đổ lỗi cho khách quan hoặc nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi...

Khẳng định sau 35 năm đổi mới “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”, nhưng theo Tổng Bí thư, thuận lợi, thời cơ đan xen với khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp, cấp bách hơn đối với công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước.

Từ đó, Tổng Bí thư yêu cầu cần phát huy những kết quả đã đạt được trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nghiêm túc, tự giác thực hiện một cách có hiệu quả những yêu cầu, nhiệm vụ đã được chỉ ra tại Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 mới đây của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, “Học tập Bác: Là học tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức cách mạng và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính. Thúc đẩy việc học tập Bác trở thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội, thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, cội nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới”. “Ai cũng tìm thấy ở đó những chuẩn mực đạo đức cần học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành nhu cầu, lẽ sống tự nhiên, mong muốn vươn lên, hoàn thiện chính bản thân mình: Bản lĩnh, kiên định, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; gần dân, tin dân, yêu dân, học dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Qua đó, bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, làm cho đất nước ngày càng phát triển, dân tộc ngày càng cường thịnh, trường tồn”.

“Làm theo Bác: Là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, hiện thực hóa bằng những chương trình hành động cụ thể, việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đề cao chức trách, đạo đức công vụ của mỗi cán bộ, đảng viên; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn, trên nền tảng, kim chỉ nam là Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin trong mọi hành động”.

“Nêu gương: Là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương”. “Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, Nhân dân noi theo”.

Tổng Bí thư cũng yêu cầu: Trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ nêu trên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược; “chống” là quan trọng, cấp bách. Đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”.

Nhằm giúp cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân nắm vững, hiểu rõ những nội dung cơ bản đề cập trong bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, vừa qua Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã có công văn đề nghị các cơ quan, đơn vị trong toàn tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư, để tiếp tục đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước./.

ĐHQ-H2

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁT XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHỒN VINH, HẠNH PHÚC THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng cống hiến, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là nhiệm vụ, là mục tiêu của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay, đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay.

Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng, nhất là thực tiễn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thể hiện một cách sinh động ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc ta. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy tinh thần và ý chí quyết tâm triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam”[1].

Xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, cần nhận thức sâu sắc, thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Coi đây là công việc thường xuyên, không thể thiếu đối với mỗi cán bộ, đảng viên. 

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nội dung, giá trị và ý nghĩa to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Học tập và làm theo Bác để Đảng ta và mỗi đảng viên xứng đáng với vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của nhân dân.

Hai là, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đưa nội dung học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết của đảng bộ cấp mình, gắn với nhiệm vụ chính trị. 

Kết hợp chặt chẽ giữa học tập với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, đơn vị và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; giải quyết hiệu quả các khâu đột phá và các vấn đề trọng tâm, bức xúc trong thực tiễn.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, lôi cuốn sự vào cuộc của toàn xã hội. 

Đẩy mạnh tuyên truyền, gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước của các cấp, các ngành, nhằm lan tỏa, khơi dậy tinh thần cống hiến, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc và tự giác thực hiện bổn phận, trách nhiệm của bản thân, gắn bó chặt chẽ, liên hệ mật thiết với nhân dân, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Nghiên cứu tổ chức cuộc vận động “Toàn Đảng, toàn dân khơi dậy khát vọng phát triển đất nước”, với quyết tâm “sánh vai với các cường quốc” như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bốn là, nêu cao trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí, tự lực, tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. 

Đề cao việc phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng theo phương châm cán bộ có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiên phong, gương mẫu “trên trước, dưới sau”, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò nêu gương trong xây dựng ý chí, khát vọng phát triển của bản thân và của cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ, đảng viên tự nêu gương sáng, hàng triệu đảng viên là những tấm gương sáng, toàn Đảng ta sẽ thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó máu thịt với nhân dân. Đây là điều kiện tiên quyết để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong Đảng và xã hội.

Năm là, nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp với điều kiện mới, làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự giác tu dưỡng, rèn luyện.

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, nêu cao bản lĩnh chính trị, đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, mất đoàn kết nội bộ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, nâng cao ý thức tu dưỡng, “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”.

Sáu là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, theo hướng khoa học, sáng tạo, hiện đại và gắn lý luận với thực tiễn, phù hợp với từng đối tượng. Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Nâng cao tính khoa học, tính chiến đấu trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị. Chủ động thông tin kịp thời, chính xác, khách quan, đúng định hướng chính trị để cán bộ, đảng viên và nhân dân tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

ĐHQ-H2



[1] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQG sự thật, H.2021, trang 46