CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2022

ĐỪNG ĐỂ THÔNG TIN TRÊN INTERNET ĐIỀU KHIỂN

 

Trong thời đại công nghệ thông tin việc giao lưu chia sẻ tin tức ngày càng dễ, bên cạnh những lợi ích còn tồn tại không ít những tiêu cực như thông tin thật, giả lẫn lỗn, sự kích động của các thế lực phản động…

Tôi quen một bác cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Thời gian gần đây, bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng "rất tệ hại". Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, tôi phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy "dám nói thẳng, nói thật" vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải "bả thông tin".

Mấy ngày gần đây, liên quan đến sự việc cơ quan công an bắt bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, xuất hiện những tin đồn, những lời xì xầm to nhỏ, những thuyết âm mưu là vụ việc liên quan đến vị lãnh đạo này, quan chức kia, rồi những sự đổ vỡ... Các thông tin được thổi phồng, cắt ghép, khớp nối có vẻ hợp lý, nếu người nghe thiếu hiểu biết, không đủ bản lĩnh thì rất dễ mắc bẫy, sẽ tin vào những thông tin xuyên tạc đó. Khi hỏi những người lan truyền thông tin là họ nghe thông tin từ đâu, thì họ nói rằng nghe trên đài, trên báo. Hỏi kỹ hơn là: “Đài, báo nào?” thì họ kể ra một loạt cái tên, hóa ra lại là toàn các trang mạng điện tử chuyên đưa thông tin phản động, các trang thông tin mù mờ không rõ ràng về nguồn gốc. Mặc dù trên Đài Truyền hình Việt Nam đã có những lãnh đạo đầu ngành trả lời rất rõ ràng về các vấn đề liên quan đến vụ việc này, thế nhưng vẫn có người bán tín, bán nghi, vẫn xì xào về các thông tin mù mờ trên mạng mà mình xem, nghe được.

Những người tiếp nhận và tin theo các thông tin mù mờ trên mạng là hết sức ngây thơ. Bởi họ không biết, hoặc biết không đầy đủ rằng các tổ chức khủng bố, phản động như Việt Tân, Hội anh em dân chủ... thiết lập rất nhiều website, blog, facebook, youtube, mở nhiều diễn đàn, câu lạc bộ nhằm tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video clip có nội dung xấu, độc. Một số cơ quan báo chí của phương Tây như RFA, BBC Việt ngữ, hay các trang thông tin do một số đối tượng có tiền án, tiền sự, chống đối Đảng, Nhà nước ta lập ra như thoibao.de... thường xuyên đăng tải, tung những thông tin sai sự thật, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Phạm vi của các thông tin xuyên tạc là rất rộng, các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... đều là "chiến địa" của chúng. Đối tượng công kích của chúng rất đa dạng từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành địa phương, cơ quan, đơn vị cho tới các tổ chức chính trị-xã hội, từ lãnh đạo cấp cao cho tới cả các nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân, người nổi tiếng đều có thể trở thành mục tiêu của họ... Đến cả việc Việt Nam vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua phiên bỏ phiếu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc một cách dân chủ, công khai, khách quan, chứng tỏ uy tín cao của Việt Nam trên trường quốc tế thì trên trang facebook của mình, tổ chức Việt Tân vẫn trơ trẽn xuyên tạc rằng kết quả trên chứng tỏ Việt Nam đã hoàn toàn lệ thuộc vào một nước khác (!?)...

Nhìn chung những thông tin xấu, độc đều có một mục đích là bôi đen hiện thực Việt Nam; thổi phồng những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; xuyên tạc về cán bộ, về công tác nhân sự; phóng đại những tiêu cực trong xã hội; bóp méo các chủ trương, chính sách, luật pháp hòng gây rối tình hình đất nước; kích động, chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội... Từ đó tạo ra nhận thức sai lệch về hiện thực theo chiều hướng xấu, hình thành tâm lý chán ghét, phẫn nộ, thậm chí căm thù chế độ và bộ máy chính quyền các cấp.

Thông qua mạng xã hội, các phần tử xấu, cơ hội chính trị cũng điên cuồng chống phá, không từ một thủ đoạn nào, từ xuyên tạc sự thật lịch sử cho đến tìm mọi cách hạ thấp uy tín, bôi nhọ lãnh tụ Đảng ta, bài bác, hòng phủ nhận giá trị của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Các thế lực thù địch còn ra sức rêu rao: Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là điều kiện cần thiết để thực thi dân chủ ở Việt Nam, để chống tham nhũng có hiệu quả, để bảo đảm đất nước phát triển; rằng lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm của dân tộc ta...

Thông thường thì những thông tin xấu, độc này lại được đăng tải dưới những chủ đề khá hấp dẫn và thu hút người đọc, bởi nó khơi gợi sự tò mò và tâm lý phản kháng, bất mãn trước những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, quan chức. Những thông tin như vậy thường có tính kích động, tạo cảm xúc tiêu cực cho người đọc. Những kẻ thực hiện các thông tin xuyên tạc cũng rất tinh vi trong việc đưa thông tin. Thường thì chúng đưa khoảng 6-7 phần là sự thật, rồi cài 3-4 phần là xuyên tạc, suy diễn với các thuyết âm mưu vào để dẫn dắt người đọc, người xem. Nếu không thận trọng để nhận diện chính xác vấn đề, người đọc sẽ dần dần hình thành niềm tin vào các trang thông tin chống phá Nhà nước, chống phá chế độ.

Ngoài ra, còn có một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phai nhạt lý tưởng, cơ hội, đầy tham vọng quyền lực cá nhân. Những người có thể sẽ phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng, và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, hay cách ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác. Họ rất dễ trở thành "miếng mồi ngon" cho những thông tin xấu, độc và bản thân họ cũng có thể trở thành những tác nhân của thông tin xấu, độc, cả những khiếu nại, tố cáo với mục đích không trong sáng gây nhiễu loạn nội bộ.  

Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau:

Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và phông nhận thức, hiểu biết, tạo thành bản lĩnh vững vàng trước các thông tin xấu, độc.

Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị.

Thứ tư, các tổ chức trong hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước cần phát huy vai trò của báo chí, truyền thông; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động báo chí, truyền thông, xuất bản; tăng tính đấu tranh của báo chí với các thông tin xuyên tạc. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội, trong đó chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ năm, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc.

NAT-BC

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

HÃY CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN XÉT LẠI LỊCH SỬ

 

Với dã tâm thâm độc, lòng thù hận, các thế lực thù địch, xét lại, cơ hội chính trị đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, phủ nhận sự thật lịch sử; khoét sâu, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm, nhằm tuyên truyền sai lệch, làm cho một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc, nhất là giới trẻ hoài nghi, phai nhạt niềm tin đối với Đảng, chia rẽ  Đảng với Nhân dân, làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng lật lại những thông tin, sự kiện cũ, nhưng lại suy diễn, xuyên tạc bằng “cái nhìn mới” để kích thích người nghe, người xem

Một trong những sự kiện lịch sử mà các thế lực thù địch "xét lại", đó là sự kiện Cải cách ruộng đất (1954). Các thế lực thù địch đã ra sức thổi phồng, xuyên tạc rằng: “Cải cách ruộng đất ở miền Bắc là cuộc “thanh trừng”, “tắm máu”; những khuyết điểm đó bắt nguồn từ sự sai lầm của Đảng khi đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện chuyên chính vô sản hà khắc”.

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc diễn ra từ năm 1953 đến năm 1956, với mục đích: thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, tư sản; chia ruộng đất cho nông dân, thực hiện “Người cày có ruộng”. Đây là việc làm tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam, trong bối cảnh xã hội có hơn 90% là nông dân và là một trong những phương thức chủ yếu để lập lại công bằng xã hội, làm cơ sở để xây dựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đầu, cuộc Cải cách thu được kết quả tốt, trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy kháng chiến, góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Cải cách ruộng đất đã được thực hiện ở 3.314 xã với hơn 08 triệu dân, tịch thu hơn 70 vạn héc ta (44,6%) ruộng đất chia cho nông dân, tạo ra bước phát triển vượt bậc trong sản xuất nông nghiệp. Trong quá trình thực hiện, do nóng vội, nên việc thi hành cải cách ruộng đất có nơi bị mất kiểm soát, thực hiện không đúng chỉ đạo của Trung ương, gây ra những tổn thất cho cách mạng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhận ra sai lầm, khuyết điểm, Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, công khai nhận khuyết điểm và hành động quyết liệt để sửa chữa, khắc phục và luôn coi đó là bài học kinh nghiệm quý trong công tác xây dựng Đảng sau này.

Trong thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành đăng trên Báo Nhân dân, số 897, ra ngày 18/8/1956, Hồ Chủ tịch đã viết: “Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm ấy và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa, nhằm đoàn kết cán bộ, đoàn kết nhân dân, ổn định nông thôn, đẩy mạnh sản xuất”. Thực tế đã chứng minh, nhân dân vẫn giữ trọn niềm tin với Đảng; dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố ngày càng vững chắc, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Như vậy, rõ ràng, việc cố tình đem các sự kiện lịch sử ra xét lại, hòng bôi nhọ, xuyên tạc đường lối của Đảng, Nhà nước là một thủ đoạn rất thâm độc mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Mỗi người cần hết sức cảnh giác, tiếp nhận thông tin có chọn lọc, có sự phản biện và biết đấu tranh, phê phán./.

BL-H2

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2022

KHÔNG CẦN PHẢI LÊN TIẾNG NÓI VIỆT NAM VỀ NHÂN QUYỀN

  

Sau hơn 1 ngày im hơi lặng tiếng trước thông tin Việt Nam trở thành 1 trong 14 quốc gia là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, trong tâm lý cay cú và chán nản, cuối cùng Việt Tân cũng lên tiếng và thể hiện thái độ của mình.

Không dám xuyên tạc trước những lá phiếu bầu của các thành viên Liên Hiệp Quốc, cũng không thể phủ nhận kết quả bầu thành viên đã được thông qua, Việt Tân đánh chỉ “cầu mong”, “hi vọng” tình hình nhân quyền của Việt Nam sẽ được cải thiện. Thậm chí, với giọng điệu trịnh thượng, Việt Tân còn kêu gọi, gây áp lực về 4 điểm mà chúng nêu ra nhưng thực chất là hỗ trợ, động viên, an ủi cho số chống đối ở trong nước. Để đám cơ sở của Việt Tân ở trong nước an tâm chống đối khi cái lý tưởng cải thiện nhân quyền vừa bị giáng một đòn đau.

Sự phản ứng yếu ớt và cho có lệ của Việt Tân đã thể hiện phần nào sự thừa nhận thất bại trong công cuộc xuyên tạc, chống phá của tổ chức khủng bố Việt Tân. Và Việt Nam càng không cần Việt Tân lên tiếng nói Việt Nam làm nhân quyền như thế nào. Bởi trong những năm qua, đời sống kinh tế - xã hội của người dân luôn được quan tâm và không ngừng cải thiện. Những lá phiếu bầu cho Việt Nam của các nước thành viên Liên Hợp Quốc chính là sự công nhận nỗ lực của Việt Nam đối với vấn đề nhân quyền. Kết quả bỏ phiếu trên cũng đã chứng minh những luận điệu của các tổ chức phản động, các đối tượng lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” trước đây là một sự xuyên tạc trắng trợn về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Kết quả này là niềm vui của hàng triệu con người Việt Nam nhưng là nỗi buồn của không biết bao con người đang ngày đêm miệt mài chống phá đất nước chúng ta.

Việt Tân chưa bao giờ đủ tư cách để nói chuyện, để “dạy” cho chính quyền Việt Nam phải làm bất kỳ vấn đề gì kể cả đó là vấn đề nhân quyền. Bởi nói thì luôn dễ hơn làm, chỉ trích dễ hơn xây dựng nhất là một tổ chức khủng bố như Việt Tân thì càng không có gì để nói./.

HGL-H8

 

 

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

LÒNG TỰ TÔN DÂN TỘC CỦA CHA THOẠI ĐANG Ở ĐÂU?

 

Tư tưởng sính ngoại của cha Đinh Hữu Thoại khiến dư luận cảm thấy nực cười. Mới đây, sau khi trang báo điện tử VOA đưa tin về việc: “Đông đảo thần dân Anh không chen chân được vào trung tâm để tận mắt chứng kiến đoàn xe tang đưa linh cữu của Nữ hoàng tới Cung điện Westminster hôm 14/9 đổ xô qua Công viên Hyde Park để theo dõi qua các màn ảnh lớn ngoài trời...”, cha Đinh Hữu Thoại buông lơi một câu cảm thán “Nể họ thật !”.

Không rõ đây là tình cảm của cha Thoại thể hiện sự quan tâm, chia sẻ với cộng đồng người Anh sau khi Nữ hoàng của họ qua đời hay chẳng qua cha đang lợi dụng sự việc để đánh bóng tên tuổi. Đặc biệt là câu khen ngợi có phần nịnh nọt, có cánh mà cha Thoại dành cho họ.

Trong khi đó, ở Việt Nam chúng ta cũng có nhiều hình ảnh đẹp về tình cảm đẹp của người dân dành cho những vị lãnh tụ, những người vĩ nhân của đất nước, nhưng chưa khi nào thấy cha Thoại thể hiện sự xúc động tốt cùng để thốt lên một câu xanh rờn như vậy.

Mùa thu tháng 10 tại Hà Nội cách đây 9 năm, chúng ta nghẹn ngào xúc động chứng kiến hàng triệu người dân Việt Nam đã bày tỏ tấm lòng thành kính thương tiếc Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dòng người hàng ngày nối dài xếp hàng lặng lẽ chờ đợi để được vào viếng Đại tướng tại nhà riêng. Và càng xúc động hơn nữa, khi chứng kiến những dòng người, đủ thành phần từ người già, đến trẻ nhỏ, các cựu chiến binh... xếp hàng dài từ Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông đến Sân bay Nội Bài được kịp chào biệt Đại tướng của nhân dân lần cuối cùng.

Với những hình ảnh phản ánh về tình cảm thiêng liêng của người dân Việt Nam như vậy, với tư cách là một người con dân đất Việt, cha có cảm thấy tự hào hay không nhỉ?

Nguyễn Đắc Việt – H2

 

 

 

 

 

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2022

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC NÓI XẤU CÁN BỘ QUÂN ĐỘI

  

Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. Do đó, mỗi bước đi, mỗi sự trưởng thành, lớn mạnh và cả những hạn chế của quân đội, nhất là việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ đều thu hút sự quan tâm rất lớn của nhân dân. Tình cảm ấy cũng là điều dễ hiểu và là điều đáng mừng. Bởi lẽ có quan tâm đến sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội; có quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ quân đội thì nhân dân mới có nhu cầu thông tin, cảm thấy vui mừng trước những thành quả và cảm thấy buồn lòng trước những sự việc, vụ việc vi phạm kỷ luật, pháp luật liên quan đến cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Thế nhưng, trước một số vụ việc liên quan đến chấp hành kỷ luật, pháp luật của cán bộ quân đội, thông tin trên mạng xã hội thời gian vừa qua khá phức tạp. Bên cạnh những thông tin tích cực, có trách nhiệm xuất hiện không ít những thông tin tiêu cực, nhằm dụng ý xấu. Đặc biệt, nắm bắt được nhu cầu thông tin của người dân về công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ quân đội, các thế lực thù địch, phản động và nhưng phần tử cơ hội chính trị sử dụng không gian mạng lan truyền nhiều thông tin sai trái, bóp méo, nói xấu đội ngũ cán bộ quân đội, xuyên tạc bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cần phải khẳng định rằng, qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và quan tâm đặc biệt đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội. Đại đa số cán bộ quân đội ta là tốt, luôn giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” góp phần to lớn vào sự trưởng thành và lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên, do tác động bởi nhiều yếu tố, một số cán bộ đã suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, điển hình là vụ việc vi phạm của một số cán bộ thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam gây xôn xao dư luận thời gian gần đây... Lợi dụng những vụ việc ấy, với chiêu trò “vơ đũa cả nắm” các thế lực thù địch, phản động suy diễn rằng chất lượng đội ngũ cán bộ quân đội ta hiện nay đang “có vấn đề”, “yếu kém”, cán bộ quân đội không vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích nhân dân mà chỉ lo vun vén “lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”… Các thế lực thù địch, phản động cho rằng tình trạng thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ quân đội thời gian qua là do sai lầm, thiếu dân chủ, không khách quan, minh bạch… trong công tác cán bộ. Mục đích sâu xa của những luận điệu ấy không gì khác là xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, làm suy giảm uy tín quân đội; kích động, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa quân đội với nhân dân.

Trước tình hình trên, chúng ta cần nhận thức rõ rằng, việc một số tập thể, cá nhân cán bộ vi phạm kỷ luật, pháp luật chỉ là cá biệt, “con sâu làm rầu nồi canh”. Chúng ta không thể chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, không thể lấy hiện tượng để quy thành bản chất, không thể lấy cái cá thể để suy diễn, quy chụp thành cái tổng thể. Chúng ta càng không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ quân đội và công tác cán bộ trong quân đội.

Những thông tin bóp méo, xuyên tạc, sai trái như đã nêu chắc chắn không thể đánh lừa được dư luận, bởi lẽ đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta luôn cảnh giác, bình tĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong việc chọn lọc và tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, bằng cách cắt xén tư liệu, dựng chuyện, bóp méo thông tin, quy chụp, suy diễn một chiều, “nhào nặn” thật - giả lẫn lộn một cách tinh vi… nên ở một góc độ nào đó, trong một phạm vi nào đó, những thông tin sai trái, bịa đặt kia đã gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân, đặc biệt là trong một bộ phận “cư dân mạng” nhận thức hạn chế, bản lĩnh thiếu vững vàng về lòng trung thành, tinh thần tận trung với nước, tận hiếu với dân của đội ngũ cán bộ quân đội.

Để đấu tranh với những thông tin sai trái, xấu, độc ấy chúng ta cần phải làm nhiều việc, nhưng có lẽ trước hết phải tạo được sự đồng thuận, nhất quán từ nhận thức đến hành động ngay trong nội bộ. Những thông tin sai trái, xấu, độc trên không gian mạng chỉ có thể bị đẩy lùi bằng sức mạnh tổng hợp của những thông tin tích cực, đúng đắn. Các cơ quan chức năng cần công minh, tỉnh táo để xử lý các thông tin nói chung, thông tin liên quan đến quân đội nói riêng một cách kịp thời, chặt chẽ, thấu đáo. Đặc biệt những thông tin chính thống về các vụ việc liên quan đến quân đội cần được cung cấp đến người dân nhanh chóng, sớm nhất có thể. Khi thông tin chính thống được dân chủ, công khai, minh bạch, thông thoáng nhân dân sẽ tin tưởng hơn và các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu quân đội cũng khó mà thực hiện.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ngày càng gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tinh vi, biến ảo hơn. Chúng triệt để lợi dụng không gian mạng để bóp méo, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Vì vậy, chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, định hướng dư luận, đặc biệt là việc kịp thời cung cấp thông tin đến người dân. Nếu như chúng ta không tích cực, chủ động cung cấp thông tin thì vô hình trung sẽ tạo nên khoảng trống cho sự tồn tại của các luận điệu bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt. Cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác là sự phản bác có hiệu quả nhất đối với những luận điệu xuyên tạc, chống phá và cũng là cơ sở quan trọng cho việc thực hiện yêu cầu cần thoát khỏi thế “chống đỡ” để chuyển mạnh sang thế “tấn công” trước sự phá hoại của các thế lực thù địch. Như vậy, có thể nói mấu chốt của vấn đề là ở chỗ chúng ta phải tôn trọng dư luận và làm chủ trận địa thông tin.

Cùng với đó, một thông điệp cần được gửi đến mọi cán bộ, đảng viên và người dân, nhất là cán bộ, chiến sĩ quân đội là phải luôn cảnh giác, kịp thời phát hiện để không tiếp tay cho kẻ xấu cũng như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lan truyền thông tin xuyên tạc trên mạng, đồng thời tích cực, chủ động đấu tranh phản bác, tẩy chay, loại bỏ những thông tin bóp méo, xuyên tạc, sai trái. Đối với những thông tin sai trái, xấu, độc, lẽ đương nhiên các cơ quan chức năng phải có các biện pháp đấu tranh xử lý nghiêm minh. Đi kèm với đó mỗi chúng ta phải đề cao trách nhiệm kịp thời lên tiếng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ cái đúng; kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi thông tin xuyên tạc, bịa đặt không để kẻ xấu coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ danh dự, uy tín của quân đội và cá nhân các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy quân đội, gây hoang mang dư luận, gây nghi kỵ lẫn nhau, chia rẽ đoàn kết nội bộ quân đội, chia rẽ đoàn kết quân - dân, ảnh hưởng không tốt đến sức mạnh chiến đấu của quân đội ta./.

VTM-H4

 

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2022

MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG “TƯ DUY CHIẾN LƯỢC” CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÁC CẤP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhiều diễn biến phức tạp và đa dạng, thời cơ và thách thức đan xen nhau. Do vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải được đổi mới toàn diện. Cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành trong khi tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực tiễn, trong thực thi nhiệm vụ phải nhạy bén, năng động và đặc biệt phải có tầm nhìn chiến lược để dự báo được các tình huống có thể xảy ra. Từ đó có cơ sở để xử lý các tình huống đột xuất góp phần đưa sự nghiệp đổi mới đi lên.

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần phải được trang bị “tư duy chiến lược” nhằm phục vụ hiệu quả các công việc được giao, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị khi quay trở lại công tác.

Vậy tư duy chiến lược là gì? Tư duy chiến lược là quá trình nhận thức lý tính về toàn cục của đối tượng tác động, đi sâu vào bản chất, tìm ra quy luật vận động của nó để có sự tác động đạt kết quả tốt nhất. Tư duy chiến lược là một sức nhìn, tầm nhìn, nhưng không phải là cái nhìn của mắt, mà là cái “nhìn” của tư duy, trí tuệ. Có được tư duy chiến lược tức là hiểu sát tình hình, xác định đúng mục đích và hiệu quả mong muốn, có tính sáng tạo cao, phát hiện sớm những tín hiệu báo trước sự thay đổi hay những mầm mống của cái mới, đạt đến mục tiêu với hiệu quả cao.

Tư duy chiến lược được thể hiện ở tầm nhìn sâu về lịch sử, nhìn đúng về hiện tại, thấy rõ về tương lai chiều hướng phát triển; đồng thời tư duy chiến lược mang tính bao quát về từng mặt, từng ngành…mà có cái nhìn hệ thống, tổng thể. Từ đó lựa chọn chính xác điểm mấu chốt, cơ bản, đề ra được các biện pháp thực hiện mục đích một cách tối ưu.

Tư duy chiến lược là tư duy mang tính sáng tạo, sớm phát hiện được các tín hiệu của sự thay đổi, của cái mới, của bước ngoặt. Kịp thời phát hiện cái mới đúng đắn, chống giáo điều. Tư duy chiến lược định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, giúp con người có tầm nhìn xa, trông rộng trong hoạt động của mình; dự báo được các tình huống có thể xảy ra; trên cơ sở đó chủ động đề ra các phương án dự phòng. Do vậy, tư duy chiến lược giúp con người chủ động, tự giác trong hoạt động. Đặc trưng quan trọng của tư duy chiến lược là xác định được xu thế vận động của thực tiễn, của đối tượng mà nó phản ánh.

Do đó, để có tư duy chiến lược những cán bộ chính quyền, đảng, đoàn thể các cấp cần phải được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện. Muốn làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ này cần phải tập trung vào một số biện pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, cần phải tăng cường bồi dưỡng phương pháp biện chứng duy vật, các phương pháp nhận thức khoa học và phong cách tư duy độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để có được tư duy chiến lược các cán bộ này, trước hết cần được bồi dưỡng, trau dồi phương pháp biện chứng duy vật. Phương pháp biện chứng duy vật giúp chủ thể đi sâu nhận thức bản chất của sự vật, hiện tượng, gạt bỏ cái bề ngoài, ngẫu nhiên, hạn chế các phương pháp siêu hình, kinh nghiệm, giáo điều.

Phương pháp biện chứng duy vật là phương pháp đỉnh cao của phương pháp tư duy khoa học, giá trị của nó được thể hiện ở chỗ nó là giải pháp cho những vấn đề mà tư tưởng tiến tới của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử. Chỉ có phương pháp biện chứng duy vật mới có sự giải thích khoa học về những quá trình vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, nắm được quy luật vận động của lịch sử, đem lại những giải pháp khoa học cho những vấn đề do cuộc sống đặt ra và vạch ra phương hướng giải quyết những vấn đề đó một cách khoa học.

Chỉ theo quan điểm của phép biện chứng duy vật mới có thể hiểu được con đường hình thành phức tạp, đầy mâu thuẫn của chân lý khách quan, mối quan hệ của những yếu tố tuyệt đối và tương đối, ổn định và biến đổi, những sự chuyển hóa từ những hình thức khái quát này sang hình thức khái quát khác sâu sắc hơn, trên mỗi giai đoạn phát triển của khoa học.

Như vậy, phương pháp biện chứng duy vật giúp cán bộ xem xét sự vật, hiện tượng cùng những phản ánh của chúng trong mối liên hệ, ràng buộc, chuyển hóa lẫn nhau, trong sự vận động, biến đổi không ngừng của chúng theo khuynh hướng chung là phát triển với việc không ngừng giải quyết những mâu thuẫn để định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của chủ thể nhằm đạt được mục đích đã xác định. Trên cơ sở đó khắc phục được những căn bệnh mà nhiều cán bộ mắc phải như: bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, bệnh giáo điều.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn hiện nay cần phải bồi dưỡng phong cách tư duy Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện. Với các phẩm chất tư duy độc lập, sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt, nhạy bén với cái mới, uyên bác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, nhuần nhuyễn giữa tính cách mạng và khoa học, thống nhất giữa suy nghĩ và hành động được thể hiện ở sự thuần thục trong việc sử dụng ngôn ngữ vừa uyên bác, tinh túy, vừa trong sáng, giản dị, phổ thông làm cho tư tưởng của Người trở nên dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng.

Đồng thời, đội ngũ cán bộ này cũng cần trau dồi thêm kiến thức về logic học. Tư duy logic giúp cho chủ thể biết xử lý thông tin, vận dụng các thao tác của hoạt động trí tuệ qua đó có cơ hội bồi dưỡng, rèn luyện tư duy chiến lược của mình. Để nâng cao năng lực tư duy chiến lược thì việc nâng cao năng lực tư duy lôgíc có vai trò hết sức quan trọng. Chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, mục đích của nhận thức khoa học là có được sự hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn về hiện thực khách quan; đồng thời, là sự vận dụng các tri thức khoa học đã có ngày càng hiệu quả hơn vào thực tiễn. Việc học tập lôgíc học có tác động to lớn đến sự hiểu biết (nắm vững) và vận dụng các thao tác của tư duy trong hoạt động nhận thức.

Thứ hai, cần phải bồi dưỡng tầm nhìn chiến lược trong xây dựng kế hoạch, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở các cấp.

Con người hiện nay, đặc biệt là những người cán bộ lãnh đạo cần phải có được tầm nhìn chiến lược. Có tầm nhìn tức là xây dựng được hình ảnh, tiêu chuẩn, lý tưởng trong tương lai và phương pháp đạt được những điều đó. Tầm nhìn chiến lược cần thiết cho việc dự báo xu hướng, tốc độ phát. Người cán bộ lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược phải đặt ra những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm, 20 năm… và hơn thế phải định hướng, dẫn dắt được quần chúng đạt được những mục tiêu đặt ra.

Thứ ba, cần phải bồi dưỡng năng lực dự báo, định hướng trong hoạt động lãnh đạo, quản lý chỉ huy.

Người cán bộ có vai trò quan trọng đối với sự thành công của các mục tiêu, các kế hoạch. Người cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cần phải có tầm nhìn về xu hướng phát triển kinh tế, dự đoán các thay đổi về các vấn đề trong tương lai để từ đó thiết lập một chiến lược phù hợp, có khả năng đón đầu các cơ hội và thách thức ở phía trước. Tầm nhìn chiến lược cần có tính sáng tạo, tính tiên phong và đóng vai trò là kim chỉ nam cho việc xây dựng các kế hoạch đem tới sự thắng lợi.

Trước những yêu cầu của thực tiễn, năng lực dự báo, định hướng ngày càng đóng vai trò quan trọng, trước hết là đối với những người cán bộ lãnh đạo. Có thể dễ dàng nhận thấy trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, các địa phương hiện nay đều có cho mình chiến lược phát triển, định hướng phát triển, dự báo xu hướng phát triển, v.v... được thể hiện là những kế hoạch, những báo cáo, là những hành động thực tiễn tập trung ở những người, những đơn vị nắm vai trò lãnh đạo, quản lý.

Tóm lại, tư duy chiến lược, các loại chiến lược, các loại tư duy chiến lược, rèn luyện tư duy chiến lược là những chuyện vừa mới mẻ, vừa quen thuộc với chúng ta từ lâu, tuy có thể trước đây chúng ta sống, chúng ta làm mà chưa nhận thức rõ ràng, sâu sắc về điều mình sống, mình làm. Tư duy chiến lược và rèn luyện tư duy chiến lược là khó nhưng lại không khó, là dễ nhưng không dễ. Nó không ở ngay trong tầm tay thì ít nhất cũng ở trong tầm với của chúng ta. Chỉ cần có sự chủ động đào tạo, bồi dưỡng thì sẽ đạt được. Tư duy chiến lược có vai trò hết sức quan trọng đối với đội ngũ những người cán bộ lãnh đạo. Bồi dưỡng tư duy chiến lược là yêu cầu cần thiết và cấp thiết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Nó sẽ góp phần hình thành đội ngũ cán bộ các cấp có bản lĩnh, có phương phương tư duy và lãnh đạo khoa học./.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tư duy lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được thực tiễn khẳng định là đúng đắn và từng bước đi vào cuộc sống. Những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian qua đã khẳng định điều đó. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, các thị trường chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tính định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường còn chưa sáng tỏ. Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và đổi mới tư duy trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thực tiễn cho thấy, đến nay chúng ta vẫn đang hình thành được một khung lý thuyết về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của cơ chế kinh tế, nhiều khi, chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường cũng như của định hướng XHCN. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt về cấu trúc, quan hệ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, vẫn chậm làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự kết hợp chúng một cách hữu cơ để tạo thành một phương thức mới giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam.

Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề đặt ra còn chưa được giải quyết, tổng kết kịp thời. Thể chế kinh tế thị trường, kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước, mặc dù đã dần được hình thành, song còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở, làm méo mó quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Hiệu lực quản lý Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều hành nền kinh tế còn nặng tính hành chính; phân định chức năng chưa rõ ràng. Một mặt, có xu hướng buông lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế thị trường, mặt khác, lại duy trì quá lâu sự độc quyền trong một số lĩnh vực (nhiều trường hợp độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp).

Để đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cấn thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Thống nhất về nhận thức, tư tưởng. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam phải vừa bảo đảm tôn trọng các nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.

Hai là: Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội; Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái.

Ba là: Tiếp tục phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu, phát triển nền kinh tế với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh vừa tạo ra sức cung, vừa tạo ra sức cầu cho các loại thị trường. Phải có một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; phát triển khoa học, công nghệ; áp dụng kịp thời các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào đổi mới công nghệ trong sản xuất. Đẩy mạnh sự phân công, hợp tác giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cũng như mối quan hệ hợp tác trên phạm vi quốc tế. Hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất. Trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể phải ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa các nguồn vốn sản xuất.

Bốn là: Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Cần quán triệt và cụ thể hóa quan điểm Đảng là: các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần. Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch, công khai, tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành viên tham gia thị trường... Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

Tóm lại, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình vận dụng một cách sáng tạo học thuyết lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như dựa trên những điều kiện thực tế của nước ta. Việc thực hiện mô hình kinh tế này trong những năm qua đã đưa đất nước ta đến những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế- xã hội. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện cũng còn nảy sinh nhiều những bất cập cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện. Cần phải thực hiện đồng bộ nhiều những giải pháp để hoàn thiện mô hình kinh tế, đặc biệt là thực hiện một số giải pháp đã nêu trên./.

H2 – Nguyễn Bá Luyện

 

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2022

CƠ SỞ KHẲNG ĐỊNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LÀ NHIỆM VỤ TRUNG TÂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

  

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một tất yếu khách quan, là nhiệm vụ kinh tế cơ bản trung tâm xuyên suốt của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Vậy tại sao công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta lại là nhiệm vụ trung tâm trong thời kỳ quá độ?

Ta thấy, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém, trình độ lực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập chưa hoàn thiện. Do đó, có thể khẳng định: Cái thiếu nhất của nước ta là thiếu lực lượng sản xuất phát triển, một cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy nước ta cần thiết phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân. Đây chính là con đường tạo ra lực lượng sản xuất mới nhằm khai thác và vận dụng triệt để nguồn nhân lực dồi dào của đất nước. Mỗi bước đi trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là mỗi bước tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng là một bước củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, làm cho nền sản xuất xã hội không ngừng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là nhiệm vụ trung tâm xuất phát từ các lý do sau:

Một là, xuất phát từ yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội thông qua con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

 Cơ sở vật chất kỹ thuật là toàn bộ hệ thống yếu tố vật chất lực lượng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật công nghệ tương ứng mà lực lượng sản xuất xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Mỗi phương thức sản xuất đều phải có một cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định tương ứng.

Đặc trưng của cơ sở vật chất kỹ thuật của các phương thức trước tư bản chủ nghĩa: Từ sản xuất bằng săn bắt hái lượm, trồng trọt chăn nuôi (phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy) cơ sở vật chất kỹ thuật còn rất thô sơ; phương thức sản xuất Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, lao động thủ công là chính, năng suất lao động thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của tư bản chủ nghĩa được tạo ra từ nền sản xuất lớn, đại công nghiệp cơ khí và hiện nay là kinh tế tri thức, trình độ chuyên môn hóa cao, năng suất lao động vượt trội.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp lớn, hiện đại có cơ cấu kinh tế hợp lí, trình độ xã hội hóa cao dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, dưới sự thống trị của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa:

Về kinh tế kinh tế: chính là nền sản xuất lớn có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại tạo ra năng xuất lao động cao:

Do yêu cầu phải thực hiện mục tiêu nâng cao năng suất lao động cái bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội chiến thắng các xã hội trước đó và để nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. C.Mác viết: Phân tích cho đến cùng, năng suất lao động là cái cơ bản nhất, quyết định nhất, sở dĩ tư bản chủ nghĩa chiến thắng được chế độ phong kiến vì tư bản chủ nghĩa tạo ra một năng suất lao động cao hơn chế độ phong kiến, do đó chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng được tư bản chủ nghĩa thì chủ nghĩa xã hội phải tạo ra năng suất lao động cao hơn nhiều so với tư bản chủ nghĩa, đó là điều chính yếu.

Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay trên thế giới, đang diễn ra xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc dân, tất cả các nước đều đẩy mạnh nghiên cứu khoa học kỹ thuật phát triển công nghệ sản xuất để tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, trên thị trường quốc tế và làm chủ thị trường trong nước. Nếu chúng ta không phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại thì chúng ta không thể nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm thì sẽ không thể cạnh tranh với sản phẩm của các nước khác trên thị trường quốc tế, thậm chí cả thị trường trong nước.

Về kinh tế xã hội: Phải được phát triển toàn diện với một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện đại, hình thành có kế hoạch trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Lênin chỉ ra: Con đường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội có hai con đường: Các nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ chế độ tư bản chủ nghĩa thì chỉ cần tiến hành cuộc cách mạng vô sản để thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa. Còn đối với các nước có nền kinh tế lạc hậu chưa qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ thực trạng của nền kinh tế Việt Nam là một nước có xuất phát điểm từ một nền nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua sự tàn phá nặng nề của chiến tranh. Chúng ta chọn con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất yếu khách quan. Tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ giúp chúng ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu về kinh tế cũng như về khoa học kỹ thuật công nghiệp so với các nước đi trước, rút ngắn khoảng cách giữa nước ta với các nước khác.

Tóm lại, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chiến lược kinh tế mang tính khách quan đối với tất cả các nước khi chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, đặc biệt là đối với một nước như nước ta hiện nay thì càng giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

Hai là, xuất phát từ tác dụng nhiều mặt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

Về kinh tế: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình tạo ra chỗ dựa vật chất vững chắc cho quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phát triển. Nhờ mỗi bước tiến lên của lực lượng sản xuất do công nghiệp hóa, hiện đại hóa mang lại mà quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từng bước được hình và củng cố, hoàn thiện và mở rộng, cơ sở bảo đảm vững chắc cho định hướng xã hội chủ nghĩa toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thúc đẩy sự phân công lao động xã hội phát triển, thúc đẩy quy hoạch vùng lãnh thổ hợp lý theo hướng chuyên canh tập trung làm cho quan hệ kinh tế giữa các vùng, các miền trở nên thống nhất.

Về chính trị: Cùng với sự phát triển của công nghiệp, khoa học công nghệ, giai cấp công nhân sẽ ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Trên cơ sở đó vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua đảng cộng sản sẽ được tăng cường. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng tạo ra cơ sở vật chất để tăng cường liên minh công - nông - trí, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm sự thống nhất về chính trị, tinh thần của toàn xã hội.

Thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là nhân tố quyết định thắng lợi của con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Về văn hóa - xã hội: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại để làm biến đổi về chất lượng sản xuất nhờ đó mà hình thành hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, con người mới xã hội chủ nghĩa, hình thành một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa - nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Về lĩnh vực quốc phòng an ninh: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện vật chất để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, vững mạnh trên cơ sở đó thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không những có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cao mà còn bảo đảm thực hiện sự kết hợp tốt kinh tế với quốc phòng an ninh, đối phó có hiệu quả với âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch./.

HDH-H2

 

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO, ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI


Trong khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tìm cách đưa ra những luận điệu sai trái, ngụy tạo để xuyên tạc, kích động chống phá.

Số tổ chức, đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã tự gán cái mác “học giả”, “nhà phản biện” hay nhân danh “những người Việt Nam yêu nước”, “bảo vệ chủ quyền biển, đảo” để đả phá, cho rằng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về biển, đảo hiện nay đã lỗi thời, không còn phù hợp, từ đó đả kích rằng Việt Nam nếu tiếp tục giữ lập trường như hiện nay “sẽ không giữ được chủ quyền biển, đảo”!

Những năm qua, tại Biển Đông xảy ra một số vụ việc phức tạp, có lúc diễn biến căng thẳng, trong đó có các hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo như: Vụ việc tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014; sự kiện tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía Nam Biển Đông của Việt Nam (từ ngày 4/7/2019 đến ngày 24/10/2019); các hoạt động tập trận trên Biển Đông tại một số thời điểm…

Những sự việc này được các tổ chức, đối tượng phản động triệt để khai thác, nhào nặn, biến tấu thành những luận điệu xảo trá, vu cáo như “Việt Nam nhu nhược, hèn nhát”, “chính quyền Việt Nam làm ngơ về Biển Đông”… Không những thế, các thế lực xấu còn vẽ ra “thuyết âm mưu” khi cho rằng Việt Nam cần phải liên minh quân sự với những nước lớn có thực lực kinh tế, quốc phòng – an ninh mạnh thì mới đủ sức bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Đặc biệt, thông qua chiến lược xoay trục, đổi chiều sang châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước trong khối ASEAN, trong đó có Việt Nam, nhằm nâng tầm ảnh hưởng đối với khu vực Biển Đông cũng như duy trì thế cân bằng quyền lực của Mỹ tại vùng biển này… cũng trở thành chủ đề mà các thế lực thù địch vin vào để đả phá, công kích.

Nhiều bài viết phê phán rằng, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng – an ninh Việt Nam hiện nay là quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được; từ đó họ vẽ ra một viễn cảnh cần phải liên minh với Mỹ thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia – dân tộc…

Các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để tìm cách chế nhạo, tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Đồng thời đưa ra các bài viết lấy danh nghĩa “phân tích khoa học” để nhằm kích động việc “chọn phe” trong các quan hệ đối ngoại của Việt Nam, cổ súy tư tưởng bài trừ nước này, theo nước kia; cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước cần phải vì phe này, phe kia để chủ quyền biển, đảo không bị xâm lấn…

Một số bài viết lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo để quy kết rằng, khi đất nước chỉ có một đảng thì không đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ đó hướng lái tư tưởng đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Mặt khác, qua thực hiện chính sách phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước, trong đó có việc hỗ trợ ngư dân bám biển, nâng cao chất lượng cuộc sống nhưng bằng lối tư duy thù địch, chống phá, số đối tượng phản động lại đưa ra những lời lẽ hết sức vô lý, cho rằng “chỉ có ngư dân bảo vệ biển, không thấy chính quyền đâu”; vu cáo chính quyền “chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế, không lo bảo vệ biển, đảo, không lo cho dân”.

Họ vin vào tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng bảo vệ pháp luật của các nước bắt giữ, xử lý để gieo rắc luận điệu “ngư dân bị bỏ rơi”! Một số bài viết lợi dụng tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; việc các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục có hành vi xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở ngoài khơi Biển Đông để đưa ra đánh giá phiến diện “lực lượng chuyên tránh thực thi pháp luật trên biển làm ngơ, không hoàn thành nhiệm vụ”.

Các đối tượng còn tiến hành phỏng vấn số chống đối, bất mãn gắn với cái mác là các “chuyên gia”, “nhà hoạch định” để đưa ra những so sánh khập khiễng, đánh giá sai lệch về năng lực, khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, kích động việc “sử dụng vũ lực” của lực lượng vũ trang trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo; họ cho rằng trước những hành động gây hấn, xâm chiếm biển, đảo Tổ quốc, nếu không nổ súng là “nhu nhược, hèn nhát”!

Nguy hiểm hơn, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Lợi dụng vấn đề chủ quyền biển, đảo, các đối tượng chống phá thông qua các tài khoản mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong theo kiểu “nội công, ngoại kích” hòng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.

Biển, đảo là bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, cấu thành chủ quyền quốc gia, cửa ngõ giao lưu quốc tế, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Bảo vệ biển, đảo chính là bảo vệ một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền biển, đảo sẽ góp phần giữ vững chủ quyền của đất nước. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là điều kiện, nội dung giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đây là quan điểm, chủ trương thể hiện định hướng chiến lược để toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, do đó cần kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bảo vệ lợi ích chính đáng của Việt Nam, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, đó là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao…

Điều này đã được nêu rõ trong các nghị quyết của Đảng và được chứng minh qua việc giải quyết vấn đề Biển Đông của Việt Nam, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động, tích cực giải quyết từng bước những tồn tại về biên giới lãnh thổ trên biển và đất liền với các nước liên quan nhằm thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác, góp phần củng cố hoà bình, an ninh khu vực, đồng thời tăng cường thế và lực của đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã ký nhiều văn bản với các nước liên quan đến biển, đảo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia về biển, tạo khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên biển phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, phục vụ nhiệm vụ tập trung phát triển kinh tế, thúc đẩy quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, nâng tầm vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chính sách quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược.

Chúng ta không đi với nước này để chống lại nước kia; không thụ động chịu tác động hay sự lôi kéo của bất cứ nước lớn nào, nhất là tránh việc trở thành con bài trong tay các nước lớn. Chúng ta thực hiện đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển.

Do đó, cần nhận diện, đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, phê phán đường lối đối ngoại, đường lối bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Chúng ta quán triệt phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết vấn đề biển, đảo, trong đó chủ quyền biển, đảo là bất biến, sách lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo thì mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình…

Những quan điểm trên chính là căn cứ chính trị, pháp lý quan trọng để chúng ta cần kiên trì, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Mục đích của việc đấu tranh này là làm cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về lập trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ quyền biển, đảo; củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay; góp phần làm cho cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam./.

ĐBC-H2


Thứ Năm, 28 tháng 4, 2022

CẢNH GIÁC KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

 

Mạng xã hội là một diễn đàn lớn, rộng mở, nơi mọi cá nhân có quyền bày tỏ quan điểm của mình, tham gia bàn luận về các vấn đề nóng của xã hội, của quốc gia. Với độ mở và tính tương tác cao, mạng xã hội cũng chính là nơi giải tỏa các xung đột tâm lý xã hội. Với số lượng người dùng lên đến hơn 75% dân số Việt Nam hiện nay, có thể ví mạng xã hội như những tờ báo lớn, nơi những thông tin nóng hổi nhất được lan truyền với tốc độ nhanh chóng và không biên giới. Do vậy, mạng xã hội cũng đang là nơi phát tán nhiều tin rác, tin giả, tin sai sự thật… Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng các quyền tự do dân chủ, thông qua mạng xã hội để xâm phạm lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây tâm lý hoang mang trong dư luận xã hội.

Trước những tác động tiêu cực, mặt trái của mạng xã hội đặt ra cho mỗi người chúng ta khi tham gia phải luôn thực hiện đúng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Không đăng tải những nội dung vi phạm pháp luật, các thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác; sử dụng ngôn ngữ phản cảm, vi phạm thuần phong mỹ tục; tung tin giả, tin sai sự thật; quảng cáo, kinh doanh dịch vụ trái phép… gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội./.

TVH-H2

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

QUAN ĐIỂM, NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG PHÁP, PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

  

Là người khai sinh ra nền ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người. Trước hết, tư tưởng đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người đã thể hiện nổi bật trong hệ thống các tác phẩm báo chí, các bức thư, các lời kêu gọi, các tác phẩm chính luận của Người. Các quan điểm đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển, hoàn thiện được thể hiện tập trung trong “Đường cách mệnh” (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (1930), Chương trình 10 điểm của mặt trận Việt Minh (1944), Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945), thể hiện tập trung nhất trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong văn kiện Đại hội, Nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Bộ Chính trị từ năm 1930 đến nay. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở Việt Nam, năm 1967

Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp, phong cách sau:

 - Quan điểm cơ bản – nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tất cả hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước hết. Tất cả phải nhằm mục tiêu bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Không có gì quý hơn độc lập tự do!

 - Không ngừng nâng cao thực lực của cách mạng để nâng cao sức mạnh và hiệu quả của hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế: “Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn”. Tư tưởng ngoại giao rất quan trọng này đã xác định vị trí và mối quan hệ giữa xây dựng thực lực của cách mạng, xây dựng và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh và hiệu quả của hoạt động ngoại giao. Trong mối quan hệ này, hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là rất quan trọng, còn xây dựng thực lực cách mạng có ý nghĩa quyết định.

 - Quan điểm coi ngoại giao là một mặt trận, mặt trận ngoại giao cần và có thể triển khai trên khắp thế giới và ngay tại hậu phương của đối phương, đối tượng do đó phải chủ động tiến công ngoại giao: “Tiến công ngoại giao là một tiến công quan trọng có ý nghĩa chiến lược”[3]. Tiến công ở đây là phải chủ động tiến công, phải chủ động lấy cái chính nghĩa, lấy cả nghĩa cả tình (Nghĩa, lý ở đây là chân lý, lẽ phải, là pháp lý, là sự thật…; tình ở đây là khát vọng hòa bình là tinh thần hòa hiếu, hòa giải, khoan dung…) để tiến công, để thuyết phục, để cảm hóa, để tranh thủ, lôi kéo, để tập hợp. Do đó chiến lược ngoại giao phải dựa trên bối cảnh quốc tế, nắm vững đối tác, đối tượng, dự báo đúng các xu hướng phát triển, các quy luật vận động của thế giới, chiến lược của các nước, nhất là các nước lớn, các khu vực, các tổ chức quốc tế, dự báo thời cơ để quyết định các chiến dịch tiến công ngoại giao. Cần xác định kịp thời từng nội dung, từng chính sách ứng xử linh hoạt, khôn khéo để đạt hiệu quả cao.

 - Nguyên tắc định hướng mọi hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế là: Kiên định vững chắc về mục tiêu chiến lược đồng thời linh hoạt mềm dẻo về sách lược. Nguyên tắc ở đây cần kiên định đó là mục tiêu giành và giữ vững độc lập cho dân tộc, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ quốc gia (cả vùng đất, vùng trời, vùng biển), đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết trước khi tiến hành các hoạt động đối ngoại. Phải rất năng động, mềm dẻo trong thực hiện các phương châm, chính sách ngoại giao, biết nhân nhượng, thỏa hiệp có nguyên tắc, biết lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong nội bộ của đối tượng để lôi kéo, phân hóa, cô lập tối đa đối tượng. Biết vận động thuyết phục, cảm hóa các Đảng phái, các tầng lớp nhân dân các nước đồng tình ủng hộ sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp kháng chiến, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện đúng đắn và hiệu quả nguyên tắc nêu trên khi tiến hành các hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải vận dụng nhuần nhuyễn phương châm: biết mình, biết người, biết thời, biết thế, biết tiến, biết thoái, biết nhu, biết cương, biết dừng và biết biến!

 - Trong hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế phải xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với hợp tác quốc tế sẽ kết hợp tối ưu sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Đây là mối quan hệ cơ bản có tầm quan trọng hàng đầu trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Ngoại giao độc lập, tự chủ tự cường là một chuẩn mực đảm bảo quyền độc lập thực sự của một quốc gia. Độc lập tự chủ tự cường là “cái gốc”, “cái điểm mấu chốt” của mọi chủ trương, chính sách, là phương thức khơi dậy mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập tự chủ trong ngoại giao không chỉ dừng lại ở việc chủ động hoạch định chính sách, biện pháp mà điều quan trọng hơn phải biết chủ động khai thác nội lực trên tinh thần tự lực, tự cường. Mặt khác, tự lực tự cường không đồng nghĩa với khép kín, đóng cửa, cô lập mà phải chủ động tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác quốc tế. Bác Hồ từng chỉ rõ một trong những nguyên nhân suy yếu của các dân tộc phương Đông trong lịch sử là sự cô lập, là chính sách bế quan, tỏa cảng”. Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Bác Hồ đã chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ, tự cường đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã được lịch sử hơn 90 năm của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Đảng ta khẳng định đây là bài học kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

 Xây dựng, phát triển và phát huy sức mạnh tổng hợp của ngoại giao Việt Nam là quan điểm tư tưởng rất quan trọng trong phương pháp cách mạng, phương pháp nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.

Trong những năm qua, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng… làm tốt vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại  hóa đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới yêu cầu mới nặng nề phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Để góp phần cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XIII đề ra, ngoại giao Việt Nam trên cơ sở quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả cao đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Ngoại giao Việt Nam luôn bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./.

NĐV-H2

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

 

 Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.

Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”./.

HGL-H8