CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn QUỐC PHÒNG - BIỂN ĐẢO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn QUỐC PHÒNG - BIỂN ĐẢO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 5, 2021

HỌ CŨNG LÀ CHIẾN SỸ - NHỮNG NGƯỜI LÍNH "SAO VUÔNG"

Khi tình hình dịch bệnh covid-19 ở nước ta đang có những diễn biến phức tạp, song song bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên về mặt công các quân sự địa phương, các nhiệm vụ về ANTT cơ sở, các chiến sỹ Dân quân còn thực hiện thêm nhiệm vụ phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể..., phối hợp cùng lực lượng Công an, bộ đội tuần tra biên giới, truy vết các trường hợp có nghi ngờ. Với đường lối của Đảng, nhà nước và các biện pháp của chính quyền địa phương về công tác phòng chống dịch covid-19, 100% các đồng chí dân quân vững vàng tư tưởng, quyết tâm cùng nhân dân đẩy lùi dịch bệnh. Đối với nhiệm vụ tuần tra, canh giữ chống người vượt biên trái phép còn có nhiều khó khăn về điều kiện vật chất, sinh hoạt. Khi tuần tra còn có nhiều nguy hiểm như rắn, rết, bọ cạp... Tuy nhiên với sự đồng lòng và quyết tâm của từng chiến sỹ nên phần nào khắc phục những khó khăn trên. Một số đồng chí Dân quân thường trực khi được huy động lên các chốt biên giới tâm sự: "Khi được nhận nhiệm vụ này, tôi rất vinh dự, vinh dự vì bản thân đã trở thành MỘT LÁ CHẮN THÉP không chỉ để bảo vệ cho nhân dân mà còn để bảo vệ cho gia đình và những người thân yêu của tôi, đây là một nhiệm vụ vô cùng cao cả, không chỉ riêng tôi mà các chiến sỹ khác cũng nghĩ như vậy. Ở đơn vị tôi, còn có nhiều chiến sỹ xin tình nguyện đi lên biên giới nữa.

Tuy nhiên cũng có chút nhớ nhà, nhớ con cũng mong sao đẩy lùi được dịch bệnh về bên cạnh gia đình ăn những bữa cơm do vợ nấu. Nghe con gọi ba là vui lắm rồi".

Suy cho cùng chúng ta đều là con dân Việt Nam, đều là máu đỏ da vàng hãy cùng nhau góp công mỗi người một ít, cùng nhau đẩy lùi dịch bệnh để các chiến sỹ ta sớm được về với gia đình./.

HVD-BS

 

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2021

PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG THỜI KỲ MỚI

 

Phẩm chất trung với Đảng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới biểu hiện cụ thể, sâu sắc ở sự tin tưởng và trung thành tuyệt đối với Cương lĩnh, đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch và cơ hội chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; nêu cao ý chí quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội và mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước và Nhân dân giao cho.

Bộ đội giúp dân gặt lúa  mùa mưa lũ

Trong tình hình mới, các đặc trưng phẩm chất “hiếu với dân”, “yêu thương đồng chí, đồng đội”, “kỷ luật tự giác, nghiêm minh”, “thuỷ chung với bạn bè quốc tế” và mưu trí sáng tạo, dũng cảm, kiên cường, “khắc phục khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ” biểu hiện cụ thể, sinh động ở kết quả hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội vào cuộc sống; góp phần quan trọng cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đặc trưng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của Quân đội ta hiện nay thể hiện rõ nhất trong triển khai thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” (nay là Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, phù hơp với chức năng, nhiệm vụ của quân đội và tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 788-CT/QUTW về phát động Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” (nay là Chỉ thị số 855-CT/QUTWW, ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nhờ triển khai và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Cuộc vận động của Quân ủy Trung ương, toàn quân đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng, tạo sức lan tỏa sâu rộng, trở thành động lực mới động viên, cổ vũ toàn quân đoàn kết, thống nhất, giữ vững niềm tin, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, luôn xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân.

Phát huy kết quả đã đạt được, khẳng định và tiếp tục phát huy truyền thống, bản chất, hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Chỉ thị số 855-CT/QUTWW, ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; trong đó chú trọng xây dựng, bổ sung, làm sâu sắc các đặc trưng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới, đó là:

“a) Phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn, tự cường, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất, nhân ái, đoàn kết, cần cù, sáng tạo của dân tộc Việt Nam; truyền thống cách mạng của quê hương và gia đình; truyền thống vẻ vang của quân đội và đơn vị. Thực hiện nghiêm 10 lời thề danh dự của quân nhân, 12 điều kỷ luật khi quan hệ với Nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao;

b) Cống hiến trí tuệ, tài năng; nêu cao trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, vì lợi ích của Nhân dân, của quốc gia - dân tộc, vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, của Quân đội. Không ngừng nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, học tập, nghiên cứu khoa học; hiệu quả lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; làm chủ và giữ gìn tốt vũ khí, trang bị được biên chế. Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tự chủ, tự lực, tự cường, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong tình hình mới” .

Muốn vậy, cần thực hiện tốt những chuẩn mực cơ bản của “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Một là, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, động cơ trong sáng, trách nhiệm cao; tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhân dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh.

Ba là, có văn hóa, tri thức khoa học, trình độ quân sự, năng lực, phương pháp, tác phong công tác và sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Bốn là, thực hành dân chủ, kỷ luật tự giác nghiêm minh.

Năm là, chăm lo xây dựng nội bộ tốt; tôn trọng, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, có tinh thần quốc tế trong sáng.

Đây là những chuẩn mực cơ bản của “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới đối với cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên cức quốc phòng trong toàn quân. Căn cứ vào đặc điểm tình hình, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, cấp ủy, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp cần cụ thể hóa các tiêu chuẩn chung nêu trên thành các tiêu chí phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cụ thể của đơn vị và từng đối tượng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội và mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước và Nhân dân giao cho. /.

HTB-K6

 

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔNG HỢP, SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ MỚI

            Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; luôn trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với dân tộc. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Bác Hồ, sự thương yêu, đùm bọc của nhân dân. Đó là sức mạnh của một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, biết kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, đã sát cánh cùng với nhân dân, với dân tộc lập nên những thắng lợi vĩ đại, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Ngày nay, trước yêu cầu mới, Đảng ta chủ trương xây dựng “Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại"[1].Với chủ trương, phương hướng đúng đắn đó, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta không ngừng được nâng cao, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân đập tan mọi mưu đồ chống phá, xâm lược dưới mọi hình thức của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện, dất nước ta hiện đang đứng trước những thời cơ rất thuận lợi, nhưng cũng không ít những nguy cơ, thách thức. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Hơn nữa, trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, dẫn đến nhiều biến đổi lớn trong đời sống xã hội trên cả hành tinh, đến việc ra đời những học thuyết quân sự mới, sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao…Mặt khác, các thế lực thù địch đang tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, chống phá ta trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống, hòng làm cho chúng ta tự diễn biến, tự chuyển hóa tiến tới lật đổ Đảng, lật đổ chế độ, buộc đi theo quỹ đạo của họ; bọn phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài ra sức tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vu cáo chúng ta vi phạm nhân quyền, dân chủ, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phủ nhận những thành tựu phát triển của đất nước qua 35 năm đổi mới; phối hợp với bọn phản động trong nước tổ chức hoạt động chống phá, gây rối... ở một số nơi, nhất là trên những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, làm mất ổn định an ninh chính trị - xã hội. Vì vậy, việc đấu tranh giữ vững hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đang diễn ra trên những mặt trận phi vũ trang như: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống; đồng thời vẫn tồn tại khả năng đấu tranh vũ trang và chiến tranh trên các quy mô, dưới các hình thức. Cuộc đấu tranh đó lại diễn ra theo một hình thái mới, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, khác với trước kia đối đầu vũ trang là chính. Do đó, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước”[2]. Chính vì vậy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ngày nay phải là sức mạnh tổng hợp: chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa trang bị, vũ khí kỹ thuật đi đôi với việc không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới. Giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, duy trì nền hòa bình lâu dài, đẩy lùi nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, không để xảy ra bạo loạn và "tự diễn biến"; ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cho nên, yêu cầu chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại quan hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ, gắn bó mật thiết với nhau, đồng thời dựa chắc trên cơ sở của chiến lược kinh tế - xã hội, chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trên, phải tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm nòng cốt cho toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ củng cố hòa bình, giữ vững ổn định chính trị, đánh bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đồng thời luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dưới bất cứ quy mô và hình thức nào, hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, lao động sản xuất và công tác trong thời kỳ mới.

Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân cũng là sức mạnh tổng hợp, dựa trên cơ sở tổ chức khoa học, cơ cấu tổ chức lực lượng hợp lý, phù hợp với tình hình mới. Trong đó, chú trọng xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện. Bởi vậy, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị là một nội dung cơ bản xuyên suốt quá trình xây dựng quân đội, nhất là trong tình hình hiện nay. Đây cũng là nền tảng để Quân đội ta xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; đấu tranh ngăn chặn, đánh bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch trên mặt trận lý luận, chính trị, tư tưởng, văn hóa...; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đã tác động tích cực, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao đến toàn bộ hoạt động và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội. Cán bộ, chiến sỹ nhất trí cao với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, lòng tin và bản lĩnh chính trị được củng cố. Toàn quân luôn luôn nêu cao ý thức gắn kết nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay cần tập trung giáo dục cán bộ, chiến sỹ nhằm khơi dậy và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cộng đồng, đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Những giá trị tinh thần đó truyền từ đời này sang đời khác, là nguồn sức mạnh của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, chúng vẫn là nguồn sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập, hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới để phát triển. Thế nhưng, con người phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày trong cơ chế thị trường đầy khắc nghiệt và phải luôn đối mặt với những tiêu cực của xã hội, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, âm mưu phá hoại độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta của các thế lực thù địch được che đậy dưới những chiêu bài và hình thức hết sức tinh vi, thâm độc, thì yêu cầu của việc giáo dục chính trị, tư tưởng phải thực sự khoa học, có sức thuyết phục. Hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với cuộc đấu tranh chống các quan điểm cơ hội về chính trị, các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đấu tranh chống các tệ nạn tiêu cực của xã hội. Do đó, chất lượng, hiệu quả của việc giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy truyền thống cách mạng của Quân đội ta hiện nay chính là thể hiện tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước; xây dựng sức mạnh tổng hợp của Quân đội nhân dân, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, nếu chúng liều lĩnh xâm lược nước ta bằng bất cứ hình thức nào.

Trên cơ sở xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, phấn đấu tạo sự chuyển biến vững chắc hơn, toàn diện hơn về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Tiếp tục chấn chỉnh ổn định tổ chức, biên chế cơ quan, đơn vị phù hợp với yêu cầu thời bình và sẵn sàng đối phó có hiệu quả các tình huống có thể xảy ra.

Cần xây dựng đội ngũ cán bộ có số lượng, cơ cấu hợp lý, đồng bộ, chất lượng cao. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì cấp chiến dịch, chiến lược, cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước. Có chính sách phù hợp nhằm phát huy năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ sỹ quan đã được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu, bảo đảm vững chắc trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ, tăng tỷ lệ cán bộ khoa học quân sự có trình độ và chuyên gia đầu ngành. Thường xuyên củng cố, kiện toàn cơ quan tham mưu, cơ quan chính trị, hậu cần các cấp và đội ngũ cán bộ theo hướng gọn, mạnh, hợp lý, thực sự là những cơ quan vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ. Có chủ trương, chính sách và giải pháp phù hợp để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động ở những địa bàn khó khăn, phức tạp; đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, huấn luyện. Công tác giáo dục, huấn luyện phải lấy yêu cầu đánh bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và sẵn sàng đánh thắng các loại hình, các quy mô chiến tranh xâm lược của địch trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong huấn luyện cần bám sát phương châm "Cơ bản, thiết thực, vững chắc"; coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát đối tượng tác chiến, sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu nhiệm vụ địa bàn hoạt động của từng lực lượng, từng đơn vị, phù hợp với tổ chức biên chế, khả năng trang bị hiện nay và những năm tới; phù hợp với nghệ thuật quân sự, kinh nghiệm chiến đấu và cách đánh truyền thống Việt Nam. Huấn luyện cho bộ đội tác chiến giỏi bằng vũ khí trong biên chế, thuần thục khi được tăng cường vũ khí kỹ thuật có hàm lượng công nghệ cao; tác chiến hiệp đồng quân binh chủng ở các quy mô. Từng bước tiếp cận huấn luyện, khai thác sử dụng các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật công nghệ cao... Đồng thời, chú trọng đúng mức đến huấn luyện lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân, tự vệ, bảo đảm nâng cao trình độ, khả năng tác chiến của từng lực lượng.

Các học viện, nhà trường quân đội cần tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến căn bản về phương pháp dạy, học và công tác quản lý. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; tích cực đầu tư nâng cấp trang thiết bị dạy và học, mở rộng liên kết đào tạo trong và ngoài quân đội, hợp tác quốc tế, thiết thực góp phần nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Tiếp tục hoàn thiện phương thức bảo đảm hậu cần quân đội, tập trung xây dựng, hoàn chỉnh thế trận hậu cần khu vực phòng thủ chung của đất nước, chủ động tạo thế, tạo lực hậu cần ngay từ trong thời bình; tích cực xây dựng các căn cứ hậu cần; kết hợp chặt chẽ hậu cần nhân dân, hậu cần tại chỗ với hậu cần quân đội tạo thế trận hậu cần vững chắc bảo đảm cho lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân chiến đấu. Quản lý hậu cần chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các phương tiện vận tải và xăng dầu ở các cấp, cả lượng dự trữ và thường xuyên, quán triệt quan điểm cần kiệm, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bộ đội.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học - nghệ thuật quân sự. Công tác nghiên cứu khoa học - nghệ thuật quân sự cần tích cực đổi mới để đạt tới trình độ xây dựng hệ thống lý luận về đường lối, quan điểm quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Trong quá trình thực hiện cần kết hợp chặt chẽ giữa kế thừa những tinh hoa truyền thống với tổng kết thực tiễn về quân sự, quốc phòng qua các cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu phát triển lý luận nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, trước một đối tượng tác chiến được trang bị vũ khí công nghệ cao. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ tin học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu hóa... vào các lĩnh vực hoạt động quân sự; bảo quản, sửa chữa, cải tiến, thiết kế, chế tạo, tiếp thu chuyển giao công nghệ sản xuất quốc phòng, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. Coi trọng việc chỉ đạo nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao quy mô trình độ hiện đại hóa tổ chức chỉ huy.

Bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân. Vì vậy, cần làm cho mọi cán bộ, chiến sỹ, coi quá trình bảo vệ và xây dựng là thống nhất biện chứng; xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước thâm nhập vào nhau, gắn bó hữu cơ với nhau, trong xây dựng đã có yếu tố bảo vệ và ngược lại; xây dựng là "gốc" của bảo vệ, nhưng bảo vệ là yếu tố không thể thiếu của xây dựng. Hai nhiệm vụ chiến lược đó phát huy tác dụng ngay từ bây giờ để giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ dẫn đến việc hình thành những trọng tâm kinh tế mới, nhất là vùng duyên hải với lợi thế về giao lưu kinh tế, lao động, tài nguyên, v.v.. Cùng với nó là sự phát triển kết cấu hạ tầng ở những khu vực này. Điều đó, đặt ra những vấn đề mới trong tư duy chiến lược quân sự, quốc phòng. Nó đòi hỏi phải bổ sung, điều chỉnh kế hoạch quân sự, quốc phòng trên từng khu vực phòng thủ, từng hướng chiến lược cũng như trên phạm vi cả nước, tạo thế bảo vệ các trọng điểm kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng đứng chân trên các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, trước hết là bảo toàn, phát triển năng lực, làm cho đơn vị đứng vững được và từng bước vươn lên trong cơ chế thị trường, tạo ra thế bố trí chiến lược mới của đất nước về kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, tạo nền tảng chính trị - xã hội xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên các địa bàn chiến lược đó.

Kế thừa và Phát huy truyền thống , Quân đội nhân dân tiếp tục củng cố vững chắc trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong quân đội, nâng cao hơn nữa chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trước hết là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực. Cán bộ, chiến sỹ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang trung thành, tin cậy, sắc bén của Đảng, Nhà nước và của dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

                                                                                                    NXT- H1



[1] Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr. 48

[2] Đảng Cộng sản Việt nam, văn kiện Đại hội XIII, tập 1, tr.67

Thứ Sáu, 2 tháng 4, 2021

VIỆT NAM CHỦ ĐỘNG, KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO, GÓP PHẦN GIỮ VỮNG CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Kế thừa và phát triển truyền thống dựng và giữ nước của dân tộc, nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo. Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh.

Quán triệt sâu sắc chủ trương, quan điểm của Đảng về biển, đảo Việt Nam, cùng với công tác tuyên truyền, đấu tranh trên thực địa và chính trị, công tác đấu tranh trên mặt trận đối ngoại đã được thực hiện một cách chủ động, kiên quyết và kiên trì, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Trong công tác đối ngoại, Việt Nam đã chủ động nêu vấn đề Biển Đông trong các cuộc tiếp xúc ở tất cả các cấp với nhiều nước, tại các diễn đàn đa phương như Hội nghị các cấp ASEAN, Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) và các hội nghị quốc tế khác.

Chủ động xây dựng và lưu hành tại Liên hợp quốc các tài liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ và phản đối các hành động sai trái, xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao kênh học giả được triển khai đa dạng và đồng bộ; các cuộc hội thảo thu hút hàng trăm học giả, nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông.

Ngay khi có những tình huống nảy sinh trên biển, vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, chúng ta đã chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh với các bên liên quan để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia Việt Nam ở Biển Đông. Vụ việc Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Hải Dương - 981 (HD981) và các biện pháp đấu tranh của Việt Nam, trong đó có đấu tranh trên mặt trận ngoại giao là minh chứng sống động thể hiện quan điểm chủ động, kiên quyết và kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc.

Với vị thế là quốc gia hướng biển, có vị thế địa - chính trị, địa - kinh tế then chốt, nằm ở vị trí xung yếu về mặt trận an ninh, quốc phòng. Việt Nam có nhiều lợi thế và không ít thách thức trong công cuộc đưa đất nước trở thành “quốc gia mạnh về biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn” như Chiến lược phát triển bền vững  kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khoá XII đã đề ra./.

  ToH3

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2021

VIỆT NAM ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN, HƯỚNG TỚI TRỞ THÀNH QUỐC GIA MẠNH VỀ BIỂN

 


Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260 km, diện tích các vùng lãnh hải thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên 1 triệu km2, với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và trên 3.000 đảo, quần đảo khác. Nhận thức sâu sắc vai trò của biển, đảo trong phát triển bền vững, ngày 22 tháng 10 năm 2018, Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết 36-NQ/TW). Cụ thể hoá Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 05 tháng 3 năm 2020 Chính phủ đã Ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW. Có thể thấy, sau hơn hai năm thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả.

Đến nay, kinh tế biển Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Điều đó thể hiện ở những đóng góp của kinh tế biển trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Cụ thể:

Việt Nam đã và đang xây dựng 19 khu kinh tế ven biển (mới nhất là Khu kinh tế ven biển Quảng Yên - Quảng Ninh). Số liệu thống kê cho thấy, đóng góp của 28 tỉnh, thành phố ven biển vào GDP cả nước luôn đạt trên 50%[1]. Cơ sở hạ tầng tại các địa phương ven biển được hình thành, mạng lưới giao thông vận tải kết nối các vùng biển, đảo với ven biển, cảng biển, cảng hàng không, các trung tâm kinh tế được phát triển, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội.

Về phát triển kinh tế thuỷ sản, tính đến hết năm 2019, kinh tế thuỷ sản đóng góp 24,4% GDP toàn ngành nông nghiệp, tương ứng 3,4% GDP toàn quốc. Giai đoạn 2015 - 2019, tăng trưởng bình quân đạt 5,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8,6 tỷ USD, đạt mục tiêu Chiến lược thủy sản đề ra (đến năm 2020 đạt từ 8 - 9 tỷ USD)[2].

Về khai thác dầu khí trên các vùng biển của Việt Nam, giai đoạn 2006 -2015, ngành khai thác dầu khí đóng góp trung bình hàng năm khoảng 20 - 25% tổng thu ngân sách và 18-20% GDP của cả nước. Năm 2018, ngành Dầu khí đã khai thác được gần 400 triệu tấn dầu và 150 tỷ m3 khí, đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sản xuất 170 tỷ kWh điện (chiếm khoảng 15% tổng công suất lắp đặt và 30% tổng sản lượng điện cả nước), sản xuất khoảng 55 triệu tấn sản phẩm xăng dầu (chiếm 33% tổng nhu cầu cả nước)[3].

Về du lịch biển, đảo, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới và là nước có diện tích ven biển lớn ở khu vực Đông Nam Á; có 125 bãi biển và hầu hết là các bãi tắm đẹp, trong đó bãi biển Đà Nẵng đã được Tạp chí Forbes bầu chọn là 1 trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh; là 1 trong 12 quốc gia có các vịnh đẹp nhất thế giới là Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang[4]. Với những tiềm năng to lớn, du lịch biển, đảo hứa hẹn đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.

Với những kết quả đã đạt được, có thể khẳng định, Việt Nam phát triển kinh tế biển, một mặt, tận dụng và phát huy được những lợi thế so sánh về biển trong phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển. Mặt khác, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc./.

ToH3



[1] Viện Chiến lược và Chính sách tài chính - Bộ Tài chính: https://www.mof.gov.vn

[2] Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn: http://vifep.com.vn

[3] Báo Nhân dân: https://nhandan.com.vn/

[4] Hiệp hội Lữ hành Việt Nam: http://www.vista.net.vn/

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

PHÁT HUY HIỆU LỰC NGHỊ ĐỊNH VỀ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ, BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

 

Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia là một trong những vấn đề thuộc về nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch thường khai thác để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định Số: 96/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2020 về: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia. Đối tượng áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lãnh thổ Việt Nam; người có thẩm quyền lập biên bản và người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này. Nghị định sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 10 năm 2020 và thay thế Nghị định số 169/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

          Nội dung Nghị định quy định rõ mức xử phạt đối với những hành vị: Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ đường biên giới quốc gia, mốc quốc giới, dấu hiệu đường biên giới; vi phạm quy chế khu vực biên giới đất liền; vi phạm quy chế quản lý cửa khẩu biên giới đất liền; vi phạm về quản lý hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới biển; vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng; vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ công trình biên giới, biển báo trong khu vực biên giới, khu vực cửa khẩu biên giới đất liền, cửa khẩu cảng… Trong đó, mức phạt tiền từ 40 đến 50 triệu đồng áp dụng với cá nhân khi vi phạm các hành vi: Làm hư hại mốc giới, cọc dấu, dấu hiệu đường biên giới, vật đánh dấu đường biên giới, cột cờ, điểm cơ sở, bia chủ quyền trên các đảo; làm thay đổi dòng chảy sông, suối biên giới hoặc làm ảnh hưởng đến đường biên giới quốc gia; xây dựng công trình kiên cố trong phạm vi 30 m tính từ đường biên giới trên đất liền tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc hoặc 100m tính từ đường biên giới trên đất liền tuyến biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia; xây dựng trái phép công trình trên sông, suối biên giới. Đối với tổ chức khi vi phạm các hành vi trên, mức phạt tiền sẽ được tăng gấp đôi, tương ứng với 80 đến 100 triệu đồng. Ngoài ra, Nghị định quy định mức phạt với hành vi vẽ, viết thêm, tẩy xóa chữ trên các biển báo khu vực biên giới sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến một triệu đồng.

          Các mức xử phạt đối với những hành vi trên cũng như các hành vi vi phạm khác được đề cập trong Nghị định 96 của Chính phủ là cơ sở, điều kiện để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Từ đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đập tan mọi âm mưu xâm phạm chủ quyền biên giới quốc gia của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Mỗi người dân của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần phải nhận thức sâu sắc Nghị định và nêu cao tinh thần cảnh giác; cùng với Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng chung tay bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ nước ta.
=Tia chớp=

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

So sánh SIGMA 10514 Indonesia và Gepard 3.9 nâng cấp

SIGMA 10514 PKR do Indonesia tự đóng trong nước được coi là biến thể cao cấp của SIGMA 9814, vậy nếu đặt cạnh Gepard 3.9 nâng cấp thì chiến hạm nào ưu việt hơn?

Tàu hộ vệ tên lửaKRI I Gusti Ngurah Rai số hiệu 332 - Chiếc SIGMA 10514 PKR thứ hai do Indonesia đóng trong nước


Đầu tiên khi so sánh về kích thước, SIGMA 10514 PKR của Indonesia  có chiều dài 105,11 m; chiều rộng 14,02 m; mớn nước 3,75 m;  lượng giãn nước đầy tải 2.365 tấn. Thông số trên ở Gepard 3.9 bản tiêu chuẩn là [(102,2 x 13,1 x 5,3) m x 2.100 tấn], nhỏ hơn SIGMA 10514 một chút.

Tuy nhiên, bản nâng cấp dạng mô hình mà Nga mới trưng bày cho thấy tàu có kích thước dài hơn để lấy không gian lắp đặt các bệ phóng thẳng đứng của tên lửa đối không và đối hạm, cho nên tiêu chí này có thể cho là hai bên ngang nhau.

Hệ thống điện tử của SIGMA 10514 bao gồm cảm biến chính là radar mảng pha SMART-S Mk 2 hoạt động trên băng tần S, được tối ưu hóa cho hoạt động giám sát ở tầm trung - xa và chỉ thị mục tiêu trong môi trường ven biển.

Khí tài này có tầm trinh sát tối đa 250 km nếu ăng ten quay với tốc độ 13,5 vòng/phút; hoặc giảm xuống còn 150 km nếu quay với tốc độ 27 vòng/phút, nó có khả năng theo dõi 500 mục tiêu trên không và trên biển, bám bắt 3 đối tượng cùng lúc cho tên lửa tiêu diệt.

Cặp tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9 của Việt Nam tại nhà máy đóng tàu Zelenodolsk. Về cơ bản, hệ thống radar của hai tàu đã được lắp ráp xong.

 Trong khi đó, căn cứ vào mô hình, Gepard 3.9 nâng cấp tiếp tục tin dùng radar Pozitiv-ME làm việc trên băng tần X, radar này phát hiện được đối phương ở cự ly tối đa 150 km, số mục tiêu có thể theo dõi cùng lúc chỉ là 40 mặc dù vẫn có khả năng bám bắt cùng lúc 3 đối tượng. 
Chi tiết cần quan tâm tiếp theo là trên SIGMA 10514 PKR, radar điều khiển hỏa lực STING EO Mk 2 vẫn được giữ lại thì bản Gepard 3.9 mới lại thiếu vắng đài radar dẫn bắn Mineral-ME thường thấy trên cabin chỉ huy và chỉ còn lại MR-123 Vympel, có thể nhà sản xuất muốn để lại làm tùy chỉnh theo yêu cầu của từng khách hàng riêng biệt.

Xét về hỏa lực, Gepard 3.9 nâng cấp có bệ phóng đa năng UKSK, mang được 8 đạn tên lửa hành trình chống hạm siêu âm 3M-54 Klub-N tầm bắn 220 km, tốc độ lớn nhất Mach 2,9, mang theo đầu đạn nặng 200 kg, ngoài ra nó còn triển khai được cả tên lửa hành trình tấn công mặt đất 3M-14TE.

Còn SIGMA 10514 của Indonesia, vũ khí mạnh nhất của nó là 8 tên lửa hành trình chống hạm cận âm MM40 Exocet Block 3 tầm bắn 180 km, vận tốc Mach 0,95, mang đầu đạn trọng lượng 155 kg, thông số của Exocet rõ ràng kém ấn tượng hơn hẳn Klub-N.
Hỏa lực phòng không của Gepard mới cũng mạnh hơn SIGMA 10514 nhờ 16 bệ phóng thẳng đứng của tên lửa 9M317ME thuộc tổ hợp Shtil-1 tầm bắn 50 km. Ngoài chức năng chính yếu, nó còn đổi được sang kênh đối hạm để bắn cả tàu chiến mặt nước khi cần thiết.

SIGMA 10514 chỉ có 12 ống phóng thẳng đứng của tên lửa tầm ngắn VL-MICA-M, tầm tiêu diệt mục tiêu hiệu quả chỉ là 12 km, nó có thể vươn tới cự ly 20 km nhưng xác suất trúng đích không cao.

Về vũ khí chính, Gepard 3.9 hiện đại hóa chiếm ưu thế rõ rệt, nhưng các loại phụ trợ thì tàu của Indonesia lại hơn, pháo hạm Oto Melara Super Rapid 76,2 mm của nó bắn được cả đạn có điều khiển tầm 40 km, mức độ tự động hóa cao hơn hẳn AK-176MA lắp cho Gepard.

Tiếp theo, chiến hạm Indonesia còn có 1 hệ thống phòng thủ tầm cực gần (CIWS) Millennium trang bị pháo ổ quay 1 nòng 35 mm Oerlikon KDG35/1000 bắn đạn AHEAD lắp ngòi điện tử, xác suất diệt mục tiêu bay thấp sát mặt biển cao hơn nhiều so với 2 khẩu AK-630M.

Căn cứ vào mô hình, có vẻ như tàu Gepard 3.9 mới vẫn tin dùng ngư lôi hạng nặng cỡ 533 mm chứ không phải loại hạng nhẹ MU-90 Impact cỡ 324 mm như trên SIGMA 10514 PKR. Tuy nhiên, để tác chiến chống ngầm hiệu quả thì thiết bị định vị thủy âm mới là yếu tố quyết định, đáng tiếc rằng chỉ số trên hiện vẫn chưa được công khai để có thể so sánh thật chính xác.


  Trúc Thanh






Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

Tiểu liên Việt Nam sản xuất có tốc độ bắn thuộc top đầu thế giới.

Với hộp đạn chứa tới 64 viên cùng với khả năng bắn đạt 650-700 viên/phút, súng tiểu liên Việt Nam sản xuất có tốc độ bắn thuộc top đầu thế giới.



Trong phóng sự vừa được phát sóng trên Kênh QPVN nói về chuyến thăm và làm việc tại Viện vũ khí thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng của Thượng tướng Phan Văn Giang - Tổng tham mưu trưởng - Thứ trưởng Bộ quốc phòng đã giới thiệu nhiều loại vũ khí do Việt Nam sản xuất chưa từng được biết đến trước đó.



Từ hình ảnh được công bố không khó để nhận ra phiên bản Việt hóa của khẩu PP-19 Bizon của Nga. Dù hầu hết những thông tin về mẫu Bizon của Việt Nam chưa được tiết lộ nhưng nhìn bề ngoài có thể thấy sự thay đổi lớn nhất nằm ở báng gấp kiểu Galil so với nguyên bản.

Tại Nga, PP-19 được phát triển theo yêu cầu của Bộ nội vụ Nga (MVD). Mục đích chế tạo khẩu súng này là để trang bị cho các đội chống khủng bố và đơn vị thi hành công vụ, đây là những lực lượng không cần các loại súng trường có tầm bắn xa nhưng lại cần những khẩu súng nhỏ gọn, uy lực lớn ở khoảng cách gần và độ chính xác cao.

Nguyên mẫu của khẩu súng này được thử nghiệm bởi Viện Nghiên cứu Thiết bị đặc biệt vào năm 1995, PP-19 đã cho thấy sự vượt trội so với những khẩu súng cạnh tranh khác. Nó nhanh chóng được đưa vào phục vụ chính thức một năm sau đó.

Phiên bản tiêu chuẩn của Bizon có trọng lượng 2,1kg, chiều dài 660mm khi mở và 425 mm khi gấp báng với nòng dài 195 mm. Súng được phát triển dựa trên AKS-74U nên có 60% thiết kế giống khẩu súng này và giống súng trường tấn công hơn là một khẩu tiểu liên.

PP-19 Bizon có thước ngắm cơ khí tương tự như các mẫu AK nhưng khả năng tinh chỉnh khác đi do tầm bắn ngắn hơn, chỉ còn các mức 50m,100 m,150m và 200m.

Nguyên mẫu của Bizon không có ray Picatinny để gắn thêm phụ kiện, tuy nhiên xạ thủ vẫn có thể trang bị thêm các ray này bằng hệ thống đai kẹp tương tự như trên súng AK. PP-19 có cơ chế nạp đạn bằng phản lực bắn, thoi nạp đạn đóng để tăng độ chính xác.

Khi bắn các loại đạn súng ngắn bình thường thì thoi nạp đạn sẽ lùi rất ngắn, làm tăng tốc độ bắn nhưng với các loại đạn súng ngắn mạnh, áp lực cao, thoi nạp đạn sẽ tự động lùi dài hơn làm giảm tốc độ tác xạ và giảm độ giật để bắn chính xác hơn. Trong ảnh: các bộ phận của PP-19 được tháo rời.

Một điểm đặc biệt của Bizon so với những khẩu súng khác chính là hộp tiếp đạn hình trụ được gắn song song bên dưới với nòng súng nên nhiều người lầm tưởng đây là một ống phóng lựu 40mm dành riêng cho súng tiểu liên. Thiết kế này có tính cơ động cao hơn so với cách bố trí hộp đạn truyền thống.


Hộp tiếp đạn này có thể chứa tối đa 64 viên, các viên đạn được sắp xếp theo hình xoắn ốc tương tự súng tiểu liên Calico M960 của Mỹ. Hộp tiếp đạn được làm từ sợi thủy tinh gia cố, đây cũng đồng thời là ốp lót tay của xạ thủ.

Một ưu điểm nữa của thiết kế hộp tiếp đạn này là sức nặng sẽ dồn về phần trước của súng khiến nòng bị đè xuống, làm giảm độ nảy khi bắn liên thanh. Bên cạnh đó hộp tiếp đạn hình trụ của Bizon với các lỗ có ghi số giúp xạ thủ biết lượng đạn còn lại.

Nguyên mẫu PP-19 Bizon sử dụng loại đạn 9x19mm Parabellum giống như nhiều loại tiểu liên khác. PP-19 có tốc độ bắn 650 - 700 viên/phút và sơ tốc đầu đạn 380 m/s khi bắn đạn Parabellum, tầm sát thương của súng là 200m.

Hiện nay, PP-19 và các biến thể của nó đang phục chủ yếu ở nước Nga, cụ thể là trong các lực lượng phản ứng nhanh của An ninh Liên Bang (FSB) và Bộ tư pháp. Các khẩu súng PP-19 Bizon đã cho thấy khả năng tác chiến hoàn hảo qua 3 cuộc chiến là chiến tranh Dagestan, chiến tranh Chechnya lần thứ hai và chiến tranh Nam Ossetia 2008.

Tuy nhiên, hiện vẫn không rõ phiên bản Việt của khẩu PP-19 Bizon sẽ được trang bị cho lực lượng nào.

Đan Nguyên





Đột nhập kho vũ khí của Trung Quốc

Khi nói đến sự hiện đại hóa kỹ thuật quân sự của Trung Quốc, cần lưu ý đặc điểm chủ yếu của Trung Quốc - đó là tiềm lực khổng lồ. Xét về sức mua, Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất thế giới, lại sở hữu quân đội đông đảo nhất thế giới. Có nghĩa là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Trung Quốc về đa số các loại vũ khí sẽ luôn có ưu thế lớn về số lượng không chỉ đối với các nước láng giềng, mà cả đối với các lực lượng Mỹ ở Tây Thái Bình Dương.

Trung Quốc đang trở thành địch thủ chủ yếu của Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang.





Chiến hạm Gepard tiếp theo vừa về đến Cam Ranh: Uy lực cỡ nào?

Theo trang marinetraffic.com, chiến hạm Gepard 3.9 chiếc thứ 3 của Hải quân Việt Nam đã được tàu Rolldock Star đưa về đến Cam Ranh chiều 27/10.


Tàu Rolldock Star (Hà Lan) chở theo chiến hạm Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam (trước đó mang số hiệu tạm 486). (Ảnh: DM Parody)

Nguồn tin này xác nhận, tàu Rolldock Star đã tiến vào quân cảng Cam Ranh theo như đúng theo kế hoạch được công bố trước đó và chuẩn bị chuyển giao tàu hộ vệ tên lửa Gepard thứ 3 cho Hải quân Việt Nam.

Như vậy, chuyến hành trình kéo dài 44 ngày bắt đầu từ ngày 13/09 tại Novorossiysk của tàu Rolldock Star với nhiệm vụ mang theo tàu hộ vệ Gepard thứ 3 của Hải quân Việt Nam gần như đã hoàn thành.
Trước khi lên đường về nước, phía Nga đã không quên cảm ơn Việt Nam hỗ trợ thủy thủ Nga trong các cuộc thử nghiệm cặp tàu này. Cặp đầu tiên của Gepard 3.9 phiên bản tấn công đã được chế tạo và chuyển giao cho Việt Nam trong năm 2010 — 2011.

Cặp thứ hai đã được đặt hàng là phiên bản chống tàu ngầm. Cặp tàu đã được đặt ky vào năm 2013. Việc đóng tàu bị trì hoãn do vấn đề cung cấp động cơ từ Ukraine, tuy nhiên mọi việc đã được giải quyết sau đó.

Theo những thông tin và hình ảnh được phía Nga công bố cho thấy, cặp tàu Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam được trang bị vũ khí chống ngầm là dàn phóng ngư lôi 533 mm (2 dàn, 2 ống/dàn) được gắn 2 bên mạn tàu. Dù phía Nga không tiết lộ cụ thể về chủng loại ngư lôi được trang bị nhưng theo nhận định của truyền thông Nga, với kích cỡ 533 mm, cặp tàu Gepard 3.9 có thể được trang bị 1 trong 2 loại ngư là TEST 71 hoặc Type 53-65.

Tên lửa chống hạm Klub được phóng đi từ tàu Gepard Tatarstan của Hải quân Nga

Căn cứ vào những thông tin được công khai cho thấy, TEST 71 là loại ngư lôi dẫn đường bằng dây dẫn và nặng hơn khá nhiều so với loại TEST 68 — ngư lôi dẫn đường bằng dây dẫn đầu tiên của Liên Xô. TEST 71 sở hữu khá nhiều ưu điểm như tầm bắn xa hơn, đầu nổ nặng hơn và có thể tấn công mục tiêu ở độ sâu lớn hơn.

Ngoài nguyên mẫu ban đầu, TEST 71 còn được phát triển thêm 4 biến thể khác nhau. Trong đó, chỉ có biến thể TEST 71ME-NK là có khả năng tấn công đa năng (cả tàu nổi và tàu ngầm). Loại ngư lôi này có đường kính 533mm với đầu nổ nặng 205kg và có ưu điểm tuyệt vời là được trang bị 2 ngòi nổ khác nhau: Nổ cận đích (thủy âm và từ trường) và chạm nổ.

Ngư lôi hoạt động nhờ được điều khiển từ xa qua dây, đầu dò bán chủ động và đầu dò sóng âm. TEST 71ME-NK được trang bị hệ thống đẩy với 2 chân vịt kép, tốc độ hành trình 48km/h và tăng lên 74 km/h ở giai đoạn cuối, tầm xa tấn công 20km ở độ sâu lên đến 400m.

Loại ngư lôi thứ 2 tàu Gepard 3.9 có thể được trang bị là Type 53-65. Đây là loại ngư lôi dẫn đường bằng sóng âm, được thiết kế dựa trên loại ngư lôi thế hệ trước Type 53-61.

Phiên bản xuất khẩu được gọi là 53-65KE chuyên dùng để chống tàu nổi. Ngư lôi có đường kính 533mm; chiều dài 7,2m; nặng 2.070kg và trang bị đầu nổ nặng tới 300kg.

Type 53-65 đạt tầm xa tấn công 12km khi di chuyển ở tốc độ 125km/h và 18km khi di chuyển tốc độ 83km/h (biến thể 53-65K đạt tới 19km và 53-65M lên đến 22km). Theo dự đoán, biến thể mà Việt Nam mua có thể sẽ là Type 53-65K.

Tuy nhiên, căn cứ vào bước tiến lớn của công nghiệp quốc phòng Việt Nam, truyền thông Nga cho rằng, có thể cặp chiến hạm Gepard thứ 2 của Việt Nam sẽ được trang bị cả ngư lôi và tên lửa chống hạm được sản xuất trong nước.

Mặc dù chưa có thông thông tin cụ thể về vũ khí chống ngầm của cặp Gepard mới này nhưng phía Nga khẳng định, với ngư lôi 533mm, tàu hộ vệ Gepard 3.9 của Hải quân Việt Nam sẽ có khả năng chống ngầm cực mạnh, có thể hạ gục "sát thủ dưới lòng đại dương" và kể cả tàu chiến mặt nước chỉ bằng một phát bắn duy nhất.



TrungTin (tổng hợp)