CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN BIẾN HÒ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN BIẾN HÒ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH SOI SÁNG CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM

  

Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, mở ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng soi đường của học thuyết Mác, đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt, góp phần làm thay đổi đời sống các dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Bằng lý luận cách mạng và khoa học, Học thuyết Mác đã chứng minh lịch sử thường rất phức tạp, không theo con đường thẳng tắp, mà trải qua những khúc quanh. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sau một giai đoạn phát triển mạnh mẽ, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đã tạm đi vào thoái trào. Những người đối địch với chủ nghĩa xã hội, đối địch với chủ nghĩa Mác coi đây là “thời cơ vàng”, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác, bác bỏ chủ nghĩa xã hội. Họ rêu rao “chủ nghĩa Mác đã lỗi thờ”, “chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không phải là đích mà loài người hướng tới”, "nền văn minh tin học không dung nạp chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa Mác là sản phẩm của nền văn minh cơ khí, nó chỉ thích hợp ở thế kỷ XIX, chứ không phù hợp với thời đại ngày nay”, “sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở một mảng lớn trên thế giới, chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một sai lầm”... Những luận điệu đối địch thiếu căn cứ khoa học ấy của họ đã khiến nhiều người dao động, mất phương hướng, giảm lòng tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Đó chính là thách thức lớn nhất đối với chủ nghĩa Mác hiện nay. Vì thế, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác là nhiệm vụ quan trọng, bức thiết của chúng ta hiện nay.

Sức sống của học thuyết Mác thể hiện ở nhiều lĩnh vực, nhưng bao trùm ở chỗ nó giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại, đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa của con người. Sức sống của học thuyết Mác cũng được thể hiện trong thực tiễn đời sống xã hội hiện đại, mặc dù đời sống xã hội trải qua những thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu, song vẫn không ra ngoài những quy luật phổ biến đã được trình bày một cách khoa học, sáng rõ trong học thuyết Mác, mặc cho người ta thừa nhận hay không thừa nhận điều đó. Cho nên, nếu không có học thuyết Mác, sẽ không hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại, không hiểu được xu hướng biến đổi và phát triển của thời đại ngày nay. Vì vậy, chừng nào chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc còn tồn tại, chừng nào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới chưa hoàn thành thì chủ nghĩa Mác - lý luận về sự giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc vẫn còn giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.

Tuy nhiên, khoa học và thực tiễn luôn luôn biến đổi, phát triển nên học thuyết Mác cũng không ngừng được bổ sung, phát triển. Chủ nghĩa Mác là một hệ thống “mở”, một khoa học phát triển về sự phát triển thế giới và xã hội loài người. Cho nên, không ngừng phát triển chủ nghĩa Mác vừa là yêu cầu của thực tiễn xã hội, vừa là yêu cầu nội tại của bản thân học thuyết Mác. Bởi vậy một cách khách quan có phát triển và thông qua phát triển, chủ nghĩa Mác mới tự bảo vệ và phát huy sức mạnh đối với thời đại. Trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định sự trung thành của mình với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đồng thời đề ra nhiệm vụ phải bảo vệ và phát triển nó một cách sáng tạo.

Để làm được điều đó, chúng ta phải làm sáng tỏ những vấn đề về các đặc điểm chủ yếu, các xu hướng của thời đại và những vấn đề đặt ra đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, những giá trị và yêu cầu phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã thực sự là ngọn đuốc soi đường cho tiến trình cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách để đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông - Nam Á, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng bọn tay sai của chúng giành lại độc lập chủ quyền của dân tộc; những thành tựu trong công cuộc đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam... đã khẳng định tính đúng đắn, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với con đường cách mạng Việt Nam, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết của nhân dân Cuba, nhân dân Mỹ - Latinh và nhân dân tiến bộ thế giới với nhân dân Việt Nam.

Trước tình trạng khủng hoảng chung của chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác định, đối với Việt Nam đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng và là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Nhưng muốn đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bằng sự vận dụng sáng tạo của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, đổi mới dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không đổi màu, vẫn kiên trì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy nội lực kết hợp với sức mạnh của thời đại. Đổi mới kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Ngay từ đầu, Đảng xác định đổi mới không phải là từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà chính là để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện lịch sử, xã hội Việt Nam trên cơ sở đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đổi mới ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi lớn, hầu như các nước đều có sự điều chỉnh chính sách của mình. Những kinh nghiệm cải tổ, cải cách của các nước đều là sự gợi mở cho Việt Nam trong việc tìm tòi con đường đổi mới. Vì vậy, những tư duy lý luận đổi mới của Việt Nam được hình thành không chỉ từ việc đúc kết kinh nghiệm của bản thân mình mà còn được đúc kết từ những kinh nghiệm thành công và không thành công của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Đổi mới ở Việt Nam là quá trình kết hợp biện chứng giữa đổi mới tư duy lý luận và chỉ đạo hoạt động thực tiễn; là sự thống nhất hai chiều “dưới lên” và “trên xuống”; là sự gặp gỡ giữa ý Đảng với lòng dân. Điểm nổi bật của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là luôn lấy sự ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề, làm điều kiện tiên quyết cho sự nghiệp đổi mới phát triển và chính sự phát triển đã tạo ra sự ổn định mới ở cấp độ cao hơn.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, thể hiện sự trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch đang hống phá cách mạng Việt Nam một cách mạnh mẽ, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng... Mặt khác, tình trạng quan liêu tham nhũng, lãng phí tiêu cực còn điễn biến phức tạp. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được tăng cường nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong tình hình mới. Từ thực tiễn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã rút ra một số bài học kinh nghiệm lớn.

Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, có hình thức và cách làm phù hợp.

Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, và luôn nhạy bén với cái mới.

Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Tiếp tục quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, trong công cuộc đổi mới hiện nay, toàn Đảng, toàn dân tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ phát triển nhanh, bền vững thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực. Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Mặc dù lịch sử thế giới đang ở trong một “khúc quanh” phức tạp của sự phát triển, song chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tỏ rõ sức sống của mình trong đời sống hiện thực. Những giá trị tinh thần, tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng được thực tiễn khẳng định về sự đúng đắn, sức sáng tạo của nó. Đối với cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đó là nhân tố quyết định, bảo đảm mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều quan trọng là việc tiếp thu, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phải với tinh thần sáng tạo, biết kế thừa, phát huy những luận điểm trước đây và hiện nay vẫn đúng; biết sửa chữa những nhận thức sai về các luận điểm đúng; biết vượt qua những luận điểm gì trước đây đúng nhưng nay không còn phù hợp; những luận điểm gì mới cần được bổ sung vào lý luận do thực tiễn mới đặt ra... Tất cả đều phải biết vượt qua lối tư duy máy móc, sáo mòn, rập khuôn một cách cứng nhắc. Đồng thời phải hết sức tránh mọi biểu hiện xa rời, thoát ly chủ nghĩa Mác một cách cực đoan, máy móc dưới danh nghĩa “đổi mới tư duy”.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đang diễn ra và thành công tốt đẹp trong điều kiện đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố, tăng cường, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững. Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn. Trong bài phát biểu của đồng chí Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta”

Việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời gian tới sẽ trang bị cho chúng ta thế giới quan, phương pháp luận tiến bộ. Đây là vấn đề luôn luôn mới và việc nhận thức nó không ngừng phải nâng lên ở những tầng bản chất sâu và cao hơn. Thực tiễn sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam đã chứng minh chủ nghĩa Mác - Lênin không thể thiếu được và bao giờ nó cũng là ánh sáng soi đường, là nhân tố quyết định bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng. Có thể nói, nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì không có con đường giải phóng dân tộc, không có con đường cách mạng đúng đắn của Việt Nam. Điều đó đặt ra cho những người cộng sản chân chính Việt Nam nhiệm vụ không ngừng học tập, nghiên cứu để nắm vững, vận dụng sáng tạo, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới một cách hiệu quả.

                                                                                                            HAT-H1

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY

 

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đề cao công tác cán bộ. Người cho rằng đây là công việc vô cùng quan trọng của Đảng, vì cán bộ là gốc của mọi công việc. Để xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, có đạo đức tốt, Người đề cao tinh thần tự giác của giáo dục của cán bộ.

Trong bài viết “Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích”, đăng trên báo Cứu quốc, số 51, ngày 26 tháng 9 năm 1945, ký bút danh Chiến Thắng, Người viết: “Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”.

Đây là thời điểm cách mạng Tháng Tám năm 1945 mới giành được thắng lợi, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, đã xuất hiện tư tưởng tự cao, tự đại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; để kịp thời phê bình, chấn chỉnh và khắc phục những hạn chế, yếu kém trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài: “Muốn thành cán bộ tốt, phải có tinh thần tự chỉ trích”, đăng trên báo Cứu quốc.

Lịch sử ra đời, hoạt động và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng đã chứng minh, chỉ khi nào Đảng dám nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nghiêm túc tự phê bình và phê bình thì khi đó Đảng mới có thể nhận thức được đúng quy luật khách quan và có quyết sách đúng đắn để tạo chuyển biến, đưa cách mạng tiến lên. Đây là công việc khó, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp, phải “thấu tình đạt lý” mới mang đến hiệu quả thiết thực. Bởi vì, nó đòi hỏi mỗi người phải tự phân tích, mổ xẻ những ưu, khuyết điểm của chính bản thân mình; phải nhận xét, đánh giá về người khác. Nếu không thật tự giác, chân thành, công tâm thì rất dễ chủ quan, thường chỉ thấy ưu điểm, mặt mạnh của mình nhiều hơn người khác; trong khi chỉ thấy khuyết điểm, mặt yếu của người khác nhiều hơn mình.

Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân luôn gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện việc tự phê bình và phê bình ở mọi cấp, mọi ngành. Đặc biệt, để tự phê bình và phê bình đi vào thực chất và hiệu quả, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, đi đầu trong tự phê bình và phê bình; qua đó, tạo không khí dân chủ, biết và dám tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy phải có thái độ nghiêm túc kiểm điểm, đánh giá đúng ưu, nhược điểm của các cấp ủy viên, các đảng viên, nhất là các đồng chí cán bộ chủ trì, chủ chốt để kịp thời sửa chữa sai sót, yếu kém, đồng thời thực hiện tốt việc“nói phải đi đôi với làm”, “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có tinh thần tự giác rất cao, có tình thương yêu đồng chí thật sự và phải có dũng khí đấu tranh thẳng thắn, chân tình. Phê phán những tư tưởng, thái độ nể nang, hữu khuynh “im lặng là vàng”, hoặc thái độ cực đoan, muốn lợi dụng phê bình để đả kích người khác, gây rối nội bộ, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

NMH-H1

 

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Thời gian qua, các tổ chức thanh niên Việt Nam đã có nhiều hoạt động đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ. Các cơ quan quản lý nhà nước về thanh niên đã tăng cường quản lý và định hướng thông tin, quyết liệt chặn, lọc các thông tin xấu, độc trên Internet, mạng xã hội; ngăn chặn kịp thời các chiến dịch kích động biểu tình, bạo loạn, sử dụng Internet, mạng xã hội để tung tin gây mất ổn định an ninh quốc gia.

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trong thanh niên được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng như: các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chương trình cập nhật kiến thức, đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy các môn lý luận chính trị; các chương trình thông tin, thời sự... cho thanh niên. Công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong các tổ chức thanh niên có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, thống nhất tư tưởng trên những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...

Nhìn chung, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của các tổ chức thanh niên đã đạt được một số kết quả quan trọng, khẳng định vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng trong văn hóa dân tộc; góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm đổi mới.

Tuy nhiên, trình độ nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đa số thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế; nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chưa đầy đủ, sâu sắc. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các tổ chức thanh niên chưa thường xuyên, liên tục, còn bị động theo tình huống; việc cung cấp thông tin chính thống cho thanh niên chưa kịp thời, chưa đầy đủ; nhiều bài viết đấu tranh, phản bác chưa đủ sức thuyết phục về khoa học, lý luận, thiếu sức chiến đấu. Trình độ khai thác, sử dụng công nghệ thông tin của không ít tổ chức thanh niên còn bất cập, lúng túng, nhất là sử dụng công nghệ cao trong đấu tranh trên không gian mạng. Công tác giảng dạy, học tập lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn đấu tranh, phản bác trong các tổ chức thanh niên chưa được chú trọng thường xuyên. Nội dung giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các tổ chức thanh niên còn chậm đổi mới, thiếu sinh động, kém hiệu quả. Chưa có bộ phận chuyên sâu trong tổ chức thanh niên có trình độ lý luận chính trị, kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng công nghệ cao trên mạng Internet để chủ động đấu tranh, phản bác bằng những hình thức, phương pháp, nội dung phù hợp. Công tác kiểm tra, xử lý kỷ luật phát ngôn của thanh niên còn bị xem nhẹ, nhiều sai phạm lớn chậm được phát hiện xử lý...

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, tổ chức thanh niên các cấp, nhất là Đoàn thanh niên cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho thanh niên về Nghị quyết số 35-NQ/TW; đa dạng hóa các hình thức học tập tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Các tổ chức thanh niên cần có nhiều hình thức tổ chức rộng rãi chương trình giáo dục sơ cấp, trung cấp lý luận chính trị phù hợp với các đối tượng khác nhau, trang bị những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho thanh niên. Bên cạnh đó, tích cực đổi mới nội dung, chương trình giáo dục bằng nhiều hình thức sáng tạo, linh hoạt; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin, nội dung, phương pháp, trang bị phương tiện, công nghệ đấu tranh trên không gian mạng cho thanh niên… nhằm phát huy vai trò nêu gương, tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

 

ĐTT-KBS

 

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2022

LUẬN ĐIỆU BỊ BÓP MÉO, XUYÊN TẠC CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG

 

Trong khi, nhân dân ta luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Nhà nước, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, kiên trì phấn đấu vượt qua đại dịch covid19, nỗ lực vượt bậc để phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, nên đã đạt được những kết quả rất đáng trân trọng: Tổng sản phẩm trong nước GDP quý II/2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021. Ngân hang thế giới WB đánh giá, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì đà phục hồi mạnh mẽ bất chấp tình trạng bất ổn trên thế giới gia tăng. Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB dự báo, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2022 là 6,5%. Lạc quan hơn, ngân hàng United Overseas Bank – UOB dự báo, tăng trưởng GDP năm 2022 của Việt Nam là 7,0%. Thực tế là, nhân dân cả nước đang đồng lòng thích ứng an toàn với đại dịch covid-19; để phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, an lành, hạnh phúc cho nhân dân.

Tuy vậy, đâu đó, vẫn còn những phần tử phản động, bất chấp tất cả, sẵn sàng xuyên tạc sự thật về tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam; mục đích nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta để phục vụ cho mưu đồ xấu xa của bọn chúng. phát tán bài viết có tựa đề là một câu hỏi hàm chứa mưu đồ đen tối: “Việt Nam có nhân quyền không?”. Chúng đã cố tình xuyên tạc khi cho rằng “Các tổ chức quốc tế cũng ghi nhận Việt Nam Cộng sản có thông lệ bắt giam và cô lập có thời hạn những người bất đồng chính kiến trong các dịp hội họp hay lễ lạt quan trọng nhằm đề phòng đối kháng”. Chúng còn bịa đặt rằng: “Việt Nam cũng không hạn chế bắt thường xuyên những người hợp tác với các tổ chức quốc tế theo dõi tình hình nhân quyền ở Việt Nam”. Trong bài viết, bọn chúng ra sức tung hô, cổ súy cho những phần tử có những hành vi vi phạm pháp luật đã bị đưa ra xét xử nghiêm minh đó là: “Trương Quốc Huy; Nguyễn Ngọc Như Quỳnh…”. Thực chất hành vi xuyên tạc, bịa đặt, kích động của Phạm Trần hòng gây hoang mang, hướng lái dư luận, a dua, phụ họa cho những việc làm sai trái của bọn chúng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải đề cao cảnh giác để không bị mắc mưu của kẻ xấu.

Sự thật là, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã sử dụng Facebook với các tên gọi như: Mẹ nấm, Mẹ nấm Gấu, Nguyen Nhu Quynh để chia sẻ nhiều bài viết, video có nội dung chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Cơ quan chức năng đã giám định và kết luận 400 bài viết  với 1.180 trang trên Facebook cá nhân của Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Kết quả cho thấy, Quỳnh đã lợi dụng quyền tự do dân chủ, kích động nhân dân chống lại chính quyền, chống lại chế độ, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, phiên sơ thẩm và Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, phiên phúc thẩm đã xét xử Nguyễn Ngọc Như Quỳnh về tội: “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quỳnh bị xử phạt thích đáng với mức án 10 năm tù, tương xứng với hành vi và hậu quả do Quỳnh gây ra.

Trương Quốc Huy, với hành vi thu thập thông tin, hình ảnh về các vụ khiếu kiện đất đai và hành vi của nhóm tôn giáo quá khích… tại hai tỉnh An Giang và Kiên Giang để đưa lên diễn đàn mạng. Huy viết và in hàng loạt bài xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi phát tán khắp nơi. Ngày 19-10-2005, Huy bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an bắt tạm giam về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Nhưng khi được bỏ biện pháp tạm giam, Huy đã gia nhập “Khối 8406” do linh mục Nguyễn Văn Lý khởi xướng nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, kích động đòi lập một thể chế đa nguyên chống lại Đảng và Nhà nước ta. Tại tòa, Huy đã thừa nhận hành vi phạm tội. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên phạt Trương Quốc Huy 6 năm tù; sau khi ra tù, bị quản chế 3 năm tại địa phương.

Qua đây, chúng ta càng thấy rõ hơn bộ mặt thật của bọn  phản động nguy hiểm, bất chấp sự thật, sẵn sàng đổi trắng thay đen, không từ bất cứ thủ đoạn nào dù là hèn hạ, bỉ ổi nhất; để xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận diện chính xác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các phần tử phản động.

                                                                                                    NTT-KBC

Chủ Nhật, 28 tháng 8, 2022

KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI CỦA QUỐC GIA NÀO “TRUNG LẬP VỀ CHÍNH TRỊ” HAY “ĐỨNG NGOÀI CHÍNH TRỊ”

 

Cần khẳng định ngay rằng, mục tiêu hướng tới của những thủ đoạn nói trên là thúc đẩy sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thủ đoạn đó thật tinh vi và thâm hiểm, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn.

Từ góc độ lý luận, trước hết, cần bắt đầu từ luận điểm “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, mà quân đội xuất hiện để đáp ứng nhu cầu của chiến tranh (tiến công hoặc phòng ngự). Đây là luận điểm được Clau-dơ-vit (1780-1831) - nhà lý luận quân sự tư sản nổi tiếng của nước Phổ đã khái quát. Luận điểm này được thừa nhận rộng rãi trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn khoa học quân sự vô sản, nên không thể bác bỏ. Chính V.I.Lênin cũng đánh giá cao luận điểm này. Một khi đã thừa nhận “chiến tranh là sự kế tục của chính trị”, thì tất yếu phải thừa nhận: không bao giờ và không ở đâu có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hoặc “không dính đến chính trị”, bởi bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có mục tiêu chính trị, phản ảnh lập trường chính trị của các bên tham chiến; và quân đội của các bên tham chiến đều được lực lượng chính trị cầm quyền tổ chức, giáo dục để thực hiện mục tiêu chính trị đó của cuộc chiến tranh.

Thứ hai, quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó; bởi quân đội là một thành phần của nhà nước, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước để bảo vệ thành quả mà lực lượng chính trị cầm quyền có được qua các cuộc đấu tranh giành quyền lực.

Lịch sử xuất hiện quân đội gắn liền với sự ra đời của nhà nước; mà nhà nước là sản phẩm tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, nên bất cứ nhà nước nào cũng có tính chất giai cấp. Ngày nay, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản, với chế độ đa đảng, mặc dù có hiện tượng các đảng phái thay nhau cầm quyền, nhưng thực chất họ vẫn duy trì sự nhất nguyên về chính trị. Đó là thứ chính trị của giai cấp tư sản, bởi đảng chính trị nào cầm quyền cũng chỉ là sự đại diện cho các nhóm và tầng lớp khác nhau của giai cấp tư sản; nên chính phủ do các đảng chính trị cầm quyền chi phối vẫn đều phục tùng quyền lợi và bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản là chủ yếu, mặc dù vẫn phải thực thi chức năng công quyền - một trong hai chức năng cơ bản (chức năng giai cấp và chức năng công quyền) của bất cứ nhà nước nào. Theo đó, với tư cách là các cơ quan chức năng của nhà nước, quân đội được lập ra để bảo vệ thể chế chính trị của giai cấp cầm quyền, không thể không mang bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức, quản lý và nuôi dưỡng nó. Những người cổ súy cho quan điểm “quân đội phải trung lập về chính trị” đã không hiểu, hay cố tình không hiểu rằng: nói đến “chính trị” của một tổ chức, một lực lượng, là nói đến tính giai cấp mà tổ chức, lực lượng đó quán triệt và thực hiện trong thực tiễn xây dựng về mặt tư tưởng, tổ chức và thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình.

Với tư cách là một bộ phận của nhà nước, quân đội của bất cứ xã hội nào cũng đều phụ thuộc vào đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền; đồng thời, các lực lượng chính trị cầm quyền bao giờ cũng tìm mọi cách để nắm chắc quân đội thông qua nhiều biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chính sách. Do vậy, ngay từ khi xuất hiện, quân đội đã “thấm đẫm” thứ chính trị của nhà nước và giai cấp nắm giữ quyền lực trong xã hội; không có và không thể có thứ quân đội “trung lập về chính trị”, hay “đứng ngoài chính trị” như giai cấp tư sản thường tuyên truyền, nhằm che giấu bản chất giai cấp của quân đội các nước tư bản.

Phê phán sự che giấu bản chất giai cấp của quân đội tư sản. V.I.Lênin đã thẳng thừng vạch rõ: “Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động”(2). Công khai bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang cách mạng, V.I.Lênin đề ra nguyên tắc xây dựng Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngay từ năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - đã yêu cầu phải “Tổ chức ra quân đội công nông”(3) và trong suốt quá trình tổ chức xây dựng, lãnh đạo, giáo dục Quân đội ta, Người luôn nhắc nhở: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”(4); do đó, “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội. Phải tăng cường giáo dục chính trị để nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho toàn quân”(5).

Từ góc độ thực tiễn của thế giới cũng cho thấy, từ trước đến nay không có quân đội của quốc gia nào “trung lập về chính trị” hay “đứng ngoài chính trị”; bởi đây là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ thể chế chính trị của lực lượng chính trị thắng thế cầm quyền duy trì. Không khó để nhận thấy sự tham chính của quân đội nhiều nước, khi người ta vẫn chứng kiến các vụ đảo chính quân sự ở nước này, nước khác, nhất là ở châu Á, châu Phi trong những năm gần đây. Ở các nước Mỹ, Anh, Pháp... quân đội không chỉ được dùng vào nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc, mà còn được dùng vào các hoạt động xâm lược, lật đổ, can thiệp quân sự vào các quốc gia có chủ quyền khác, nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở đây các chính phủ thân phương Tây; thực chất là để phục vụ đường lối đối nội và đối ngoại của các đảng chính trị cầm quyền, mà suy cho cùng là phục vụ lợi ích của các thế lực tư bản độc quyền đứng đằng sau các chính phủ đương nhiệm. Chỉ tính từ năm 1990 đến nay, quân đội Mỹ đã liên tục can dự vào đời sống chính trị của các nước và các khu vực, kể cả tiến hành chiến tranh, như: ở vùng Vịnh Pec-xích năm 1991, Nam Tư năm 1999, Áp-ga-ni-xtan năm 2001, I-rắc năm 2003, Li Bi năm 2011, v.v.

Nhìn vào thực tiễn lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chống lại ách nô dịch của thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ cũng thấy rất rõ quân đội các nước này không bao giờ “trung lập về chính trị”, nhất là khi các quân nhân của họ được giáo dục “sứ mệnh” đến Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn khu vực Đông Nam Á” (!).

Cũng cần thấy rằng, ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, bất cứ đảng chính trị nào khi cầm quyền cũng tìm mọi cách để nắm quân đội; bởi khi nắm được quân đội, thì việc duy trì quyền lực của đảng đó sẽ thuận lợi hơn. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng chính trị diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thì thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội trung lập về chính trị”, nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội.

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam cũng chứng minh: Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị.

78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh rõ một thực tiễn lịch sử: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “quân đội phải trung lập về chính trị”, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh sự cần thiết phải chăm lo xây dựng Quân đội vững về chính trị. Người căn dặn: “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”(6) và “Muốn cho quân đội ta quyết chiến quyết thắng hơn nữa thì phải săn sóc đời sống vật chất của họ, nâng cao trình độ chiến thuật và kỹ thuật của họ, nhất là giáo dục chính trị, làm cho có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo”(7). Trong lần về thăm Trường Chính trị trung cấp quân đội (nay là Học viện Chính trị) ngày 25/10/1951, Người nhắc nhở các học viên: “Phải cố gắng học tập về mọi mặt chính trị, quân sự. Phải học tập chính trị: Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”(8).

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, mà cốt lõi là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân gắn liền với xây dựng tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta là một bài học thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Lãnh tụ Hồ Chí Minh trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản ở một nước có nền kinh tế chậm phát triển. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm nghiệm và khẳng định tính đúng đắn của bài học đó. Ngay từ ngày đầu thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã được tổ chức theo mô hình có chi bộ Đảng lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có một cán bộ chính trị chuyên làm công tác chính trị theo đường lối của Đảng.

Nhờ chăm lo xây dựng vững mạnh về chính trị, mà trước hết là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương (năm 1964) của Bác: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(9).

Đấu tranh vạch trần sự lừa bịp của luận điểm “Quân đội phải trung lập về chính trị” và tăng cường các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là hai nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trước hết là sự nỗ lực của bản thân cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta./.

PVĐ-H4

(1) (2) V.I.Lênin toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.136, 136

(3)  Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.1.

(4) (9) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 14, Sđd,tr.435, 435

(5) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 11,Sđd, tr.365.

(6) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.470.

(7) Hồ Chí Minh toàn tập,Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 397-398, 217

 

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2022

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 

Tư duy lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được thực tiễn khẳng định là đúng đắn và từng bước đi vào cuộc sống. Những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời gian qua đã khẳng định điều đó. Tuy nhiên, kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, các thị trường chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về tính định hướng XHCN đối với kinh tế thị trường còn chưa sáng tỏ. Vì vậy, phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi và đổi mới tư duy trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thực tiễn cho thấy, đến nay chúng ta vẫn đang hình thành được một khung lý thuyết về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nên trong xây dựng, vận hành và xử lý các vấn đề của cơ chế kinh tế, nhiều khi, chưa tôn trọng đầy đủ và nhất quán những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường cũng như của định hướng XHCN. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt về cấu trúc, quan hệ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, vẫn chậm làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ giữa hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, về sự kết hợp chúng một cách hữu cơ để tạo thành một phương thức mới giải quyết các vấn đề phát triển của Việt Nam.

Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN còn chậm so với thực tiễn phát triển. Nhiều vấn đề đặt ra còn chưa được giải quyết, tổng kết kịp thời. Thể chế kinh tế thị trường, kể cả hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước, mặc dù đã dần được hình thành, song còn chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở, làm méo mó quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Hiệu lực quản lý Nhà nước còn hạn chế, nhất là trong điều hành nền kinh tế còn nặng tính hành chính; phân định chức năng chưa rõ ràng. Một mặt, có xu hướng buông lỏng chức năng của Nhà nước trong điều tiết kinh tế thị trường, mặt khác, lại duy trì quá lâu sự độc quyền trong một số lĩnh vực (nhiều trường hợp độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp).

Để đổi mới tư duy lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cấn thực hiện một số giải pháp sau:

Một là: Thống nhất về nhận thức, tư tưởng. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam phải vừa bảo đảm tôn trọng các nguyên tắc của kinh tế thị trường, vừa phát triển bền vững trên cơ sở chú trọng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường.

Hai là: Nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển; Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội; Bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường; Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái.

Ba là: Tiếp tục phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa sở hữu, phát triển nền kinh tế với nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh vừa tạo ra sức cung, vừa tạo ra sức cầu cho các loại thị trường. Phải có một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và xu thế phát triển chung của thế giới, chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân; phát triển khoa học, công nghệ; áp dụng kịp thời các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào đổi mới công nghệ trong sản xuất. Đẩy mạnh sự phân công, hợp tác giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cũng như mối quan hệ hợp tác trên phạm vi quốc tế. Hoàn thiện môi trường thể chế, tôn trọng tự do cạnh tranh và kiểm soát độc quyền. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, được cấu thành từ nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất. Trong đó, kinh tế nhà nước và tập thể phải ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa các nguồn vốn sản xuất.

Bốn là: Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh. Cần quán triệt và cụ thể hóa quan điểm Đảng là: các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể và doanh nghiệp cổ phần. Cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật theo hướng minh bạch, công khai, tạo ra môi trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng cho mọi thành viên tham gia thị trường... Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

Tóm lại, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là kết quả của quá trình vận dụng một cách sáng tạo học thuyết lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như dựa trên những điều kiện thực tế của nước ta. Việc thực hiện mô hình kinh tế này trong những năm qua đã đưa đất nước ta đến những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế- xã hội. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện cũng còn nảy sinh nhiều những bất cập cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện. Cần phải thực hiện đồng bộ nhiều những giải pháp để hoàn thiện mô hình kinh tế, đặc biệt là thực hiện một số giải pháp đã nêu trên./.

H2 – Nguyễn Bá Luyện

 

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2022

LỜI BÁC DẠY NGÀY 27/5

 

Nhân dịp Hội nghị dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc diễn ra tại Việt Bắc ngày 27 tháng 5 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư “Gửi nam nữ dân quân, tự vệ và du kích toàn quốc”. Trong thư Người khen ngợi và đánh giá cao vai trò của lực lượng dân quân, tự vệ và du kích. Người viết: “Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân quân tự vệ và du kích là một lực lượng trong chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương.

Để xây dưng lực lượng dân quân tự vệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Đảng, Nhà nước đã ban hành đồng bộ các nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là Luật dân quân tự vệ để thống nhất trong công tác quản lý, chỉ huy, điều hành. Hiện nay, lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng theo phương châm “ vững mạnh, rộng khắp”, chú trọng xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở khu biên giới, biển đảo, các đại bàn chiến lược, trọng điểm về quốc phòng, an ninh với số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp ngày càng cao, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở; tổ chức biên chế tinh gọn, chặt chẽ; trang bị vũ khí phù hợp; được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự toàn diện, thiết thực; khả năng sẵn sàng chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, tham gia phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, xứng đáng là công cụ sắc bén và tin cậy bảo vệ Đảng, chính quyền và nhân dân ở cở sở, xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ kính yêu./.

NMH-H1

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2022

HÃY CẢNH GIÁC VÀ LOẠI BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA LÝ TRẦN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TA

  

          Lợi dụng việc Việt Nam bỏ phiếu chống sau khi kết quả Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bỏ phiếu đình chỉ Nga trong Hội đồng Nhân quyền được công bố, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta về đường lối đối ngoại. Trên các trang mạng rfavietnam.com, Lý Trần đăng tải bài viết “có phải Việt Nam đã chọn phe” với những nhận định xiên xẹo, suy diễn cho rằng, quyết định của Việt Nam là “khá lạ lùng” hay “chính thức chọn phe, nhưng là phe của những kẻ tội đồ”. Vậy, cần nhìn nhận vấn đề này như thế nào cho đúng?

          Việt Nam là một trong số 24 quốc gia bỏ phiếu chống tại Nghị quyết đình chỉ Nga khỏi Hội đồng nhân quyền ngày 7/4/2022. Nói về vấn đề này, Lý Trần cho rằng đây là “quyết định khá lạ lùng”, vì 2 lần bỏ phiếu trước đó, Việt Nam bỏ phiếu trắng. Vì lẽ đó, y suy diễn cá nhân rằng, Việt Nam đã đứng về phe “những kẻ tội đồ”, là do “Việt Nam có nhiều lợi ích với Nga”. Đây là những luận điệu xuyên tạc quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraina nói chung và quan điểm của Việt Nam khi bỏ phiếu chống đình chỉ Nga trong Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp quốc nói riêng nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam, kích động dư luận chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

          Chúng ta luôn khẳng định lập trường không thay đổi đó là Việt Nam không đứng về bên này để chống bên kia mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý và chính nghĩa. Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng từng khẳng định rằng “Tinh thần là chúng ta không "chọn bên" mà chọn lẽ phải lớn của thời đại là hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”. Phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 7/4/2022 nhấn mạnh “Việt Nam phản đối và lên án mọi hành vi tấn công dân thường, vi phạm luật pháp quốc tế, luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế.

          Những thông tin như vậy cần được xem xét trên cơ sở kiểm chứng khách quan, minh bạch, với sự hợp tác của các bên liên quan”. Nghị quyết loại bỏ Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền lên án các hành vi vi phạm nhân quyền của Nga ở Ukraine, tuy nhiên, những cáo buộc này chưa được điều tra đầy đủ, minh bạch khách quan.

          Như vậy, việc Việt Nam bỏ phiếu chống không phải Việt Nam đứng về bên có lợi ích nhiều hơn (Nga), càng không phải là cổ súy cho những hành động vi phạm nhân quyền, những tội ác chiến tranh. Ngược lại Việt Nam phản đối và lên án mọi hành vi tấn công dân thường, vi phạm luật pháp quốc tế, luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế. Những hành vi này phải được điều tra, làm rõ một cách minh bạch, khách quan. Những luận điệu xuyên tạc của Lý Trần là hoàn toàn sai sự thật, vì vậy mỗi chúng ta phải cảnh giác, đấu tranh và loại bỏ./.

PTC-H8

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2022

VẠCH TRẦN ÂM MƯU LỢI DỤNG “XUNG ĐỘT NGA – UKRAINA” ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

 

Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Chiêu bài đó, đã và đang được thực hiện lại trong những ngày qua, khi chính trường thế giới liên tục dậy sóng trước những căng thẳng leo thang xoay quanh quan hệ giữa Nga và Ukraine mà điểm nút là khi Tổng thống Nga Putin phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine (24/02/2022).

Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam.

Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”…

Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài.

Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau:

 Thứ nhất, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột.

Thứ hai, khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình.

Thứ ba, thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine.

Thứ tư, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà./.

PVĐ-H4

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

CẢNH GIÁC VỚI BẢN TIN XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CỦA RFA

                                                                                         

Vừa qua, trang tin RFA bản tiếng Việt đã đăng tải bài viết xuyên tạc về nguy cơ khủng bố ở Việt Nam, đồng thời lừa phỉnh, xúi giục những người nhẹ dạ cả tin ủng hộ hoặc tham gia vào các tổ chức phản động, chống phá đất nước như Việt Tân, Triều Đại Việt…

Mở đầu bản tin, Ban Biên tập RFA đã bịa đặt, “chụp mũ” rằng ở Việt Nam không có nguy cơ khủng bố và: “Từ trước tới nay nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam luôn vu khống cho các tổ chức chính trị đối lập là những tổ chức khủng bố… để cho người dân sợ không dám ủng hộ các đảng phái chính trị của người gốc Việt ở nước ngoài”. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cơ quan an ninh Việt Nam đã phát hiện hàng trăm đối tượng phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài xâm nhập nội địa có mang theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật và có dấu hiệu, biểu hiện sử dụng vào mục đích khủng bố.

RFA lừa phỉnh rằng các tổ chức chính trị ở nước ngoài như Việt Tân không phải là tổ chức khủng bố, song sự thật thì hoàn toàn ngược lại. Những kẻ cầm đầu tổ chức Việt Tân đã tuyên bố “Dân chủ, nhân quyền, đối đầu bất bạo động là mũi tấn công trực diện Cộng sản; nhưng để tạo biến động, lôi kéo quần chúng vào cuộc thì buộc phải dùng vũ lực; các vụ cháy, nổ, sẽ phá vỡ bức tường sợ hãi trong quần chúng, đẩy chính quyền vào thế bị động”. Thực tế đã có âm mưu khủng bố tại Việt Nam do Việt Tân chỉ đạo bị Công an Việt Nam chặn đứng. Đó là vụ Nguyễn Hữu Thiên An (ngụ tại Khánh Hòa) âm mưu đặt bom đánh phá tại quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Việt Tân thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ cho số đối tượng chống đối trong nước hoạt động khủng bố, phá hoại. Hằng năm, Việt Tân đã vận động và gửi về Việt Nam hàng triệu USD cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như: Máy tính xách tay, máy ảnh kỷ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành hoạt động kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Được sự tài trợ, hậu thuẫn từ Việt Tân, một số đối tượng chống đối trong nước hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, manh động, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối theo chỉ đạo của Việt Tân là một “nghề” kiếm sống.

Điển hình như đối tượng Nguyễn Văn Hóa sống ở Hà Tĩnh đã ký hợp đồng với một số đài, trang mạng nước ngoài với mức 1.500 USD cho 16 phóng sự/tháng. Những thông tin xuyên tạc, kích động mà Hóa đăng tải, cung cấp đã thu hút số lượng người xem rất lớn và được phát tán với tốc độ chóng mặt… Nguyễn Văn Hóa được các thành viên tổ chức Việt Tân hỗ trợ sang Lào, Camphuchia, Thái Lan, Philippines để được “trang bị thêm kiến thức về tự do, dân chủ và phát triển lực lượng”. Ngày 3/1/2017, Hóa được kết nạp vào tổ chức Việt Tân với nhiệm vụ tuyển lựa, xây dựng và phát triển lực lượng, nắm bắt tình hình trên địa bàn Hà Tĩnh. Khi bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý, Nguyễn Văn Hóa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nói rõ “do bị can còn rất trẻ, do bị lợi dụng, lôi kéo”, xin lỗi Nhà nước và nhân dân: “Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”.

Ở đây, chúng ta có thể thấy rõ sự xuyên tạc, bịa đặt của Ban Biên tập RFA không có mục đích gì khác ngoài sự vu khống, bôi nhọ để hạ thấp uy tín của hệ thống chính trị nước ta. Ban Biên tập RFA cũng chỉ lấy dẫn chứng là ý kiến của một số thành phần phản động, bất mãn chống phá đất nước như Nguyễn Văn Đài, Võ Minh Đức… Đó chỉ là một số ý kiến lạc lõng, còn đại đa số nhân dân Việt Nam vẫn đang tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Ban Biên tập RFA không có tư cách của một tổ chức truyền thông chân chính, khách quan, từ nhiều năm nay, trang tin của đài RFA, đặc biệt là bản tiếng Việt, luôn đăng tải các bài viết bịa đặt, xuyên tạc, chống phá đất nước Việt Nam. Mỗi công dân Việt Nam, chúng ta cần hết sức cảnh giác trước những thông tin xấu độc từ RFA bản tiếng Việt./.

PQH3

 

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2022

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH


Gần đây, các thế lực phản động tiếp tục thực hiệm âm mưu xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và kích động bạo loạn chính trị ở Việt Nam. Để gây sự hoài nghi, dao động của công chúng, với những luận điệu không hề có căn cứ, mà chỉ từ cái lối suy diễn, quy chụp của cá nhân. Với những người nhẹ dạ cả tin, hay người dân trình độ tri thức hạn chế không có điều kiện tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử khi đọc bài viết trên của các thế lực thù địch có thể dẫn tới sự thừa nhận, và tỏ thái độ không đúng về tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời hoạt động của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Tuy nhiên, sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp rất to lớn: tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn cho cách mạng Việt Nam; sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam thành một chính đảng Mác xít chân chính; sáng lập, giáo dục, rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam; sáng lập, xây dựng Nhà nước vô sản của dân, do dân, vì dân; cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn dân đánh bại thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đưa Việt Nam ta tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều kỳ tích như ngày nay.

Tóm lại, những luận điệu trên là hết sức phản động, là sự vu khống trắng trợn nhằm bôi nhọ, làm tổn hại thanh danh, uy tín, công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Cách mạng Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần cảnh giác, đấu tranh vạch trần chân tướng và làm rõ bộ mặt phản động, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ đã lựa chọn.

Trần Văn Hùng, TH


Thứ Tư, 23 tháng 2, 2022

VẠCH MẶT NGUYỄN VĂN ĐÀI, KẺ XÚC PHẠM ĐẾN DANH DỰ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Ở Người có sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, kết hợp phương Ðông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường. Thế mà, để chống phá cách mạng Việt Nam và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để bôi nhọ, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Mới đây trên trang (https://rfavietnam.com), Nguyễn Văn Đài có bài viết “Hồ Chí Minh ơi! Ông chết rồi! Sao còn làm khổ dân tôi?” với nhiều nội dung xúc phạm đến danh dự và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thứ nhất, Nguyễn Văn Đài cho rằng, việc xây dựng và bảo quản thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tốn kém, lãng phí và ảnh hưởng đến nhân dân, y viết “Để bảo quản cho cái xác của Hồ Chí Minh, trong 52 năm qua, Nhân dân Việt Nam đã phải đổ mồ hôi, nước mắt, kể cả xương máu để đóng thuế cho công việc đó”. Nhưng Nguyễn Văn Đài có biết rằng, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, ngày 29/11/1969, Bộ Chính trị quyết định: “Với tấm lòng kính yêu vô hạn và đời đời nhớ ơn Hồ Chủ tịch, chúng ta phải thực hiện đến mức tốt nhất nhiệm vụ giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chủ tịch và xây dựng Lăng của Người.” Vì vậy, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình văn hóa có ý nghĩa chính trị sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta, có giá trị thiết thực đối với việc giáo dục đạo đức, lối sống, nhân cách cho mỗi người dân Việt Nam. Nhiệm vụ thiêng liêng và trọng trách lớn lao đó được giao cho Quân đội mà trực tiếp là Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và từ ngày mở cửa Lăng (29/8/1975) đến ngày 27/7/2021, đơn vị đã đón tiếp, phục vụ chu đáo, an toàn gần 60 triệu lượt đồng bào và khách quốc tế; trong đó có hơn 10 triệu lượt khách của hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế; hơn 1.000 đoàn người có công với cách mạng… Các cán bộ, nhân viên của Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ân cần, niềm nở và nỗ lực bảo đảm lễ viếng diễn ra trang trọng, tôn nghiêm. Điều đó đã thể hiện lòng thành kính vô hạn của dân tộc ta và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đối với công lao trời biển của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Vậy tại sao Nguyễn Văn Đài lại  suy nghĩ một cách ấu trĩ, mơ hồ và cơ học như vậy?

Thứ hai, Nguyễn Văn Đài còn hàm hồ cho rằng “kinh phí xây dựng các tượng đài thì Nhân dân Việt Nam còn phải đổ mồ hôi, nước mắt, xương máu nhiều hơn”. Nhưng sự thật như chúng ta đã biết Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam mà còn là nhà lãnh đạo, người anh hùng giải phóng dân tộc được nhân dân thế giới ngưỡng mộ với tình cảm chân thành. Rất nhiều nước trên thế giới từ châu Á, châu Âu đến châu Phi, châu Mỹ như: Ấn Độ, Argentina, CuBa, Cộng hòa Dominica, Madagasca, Hungary, Mêxicô, Chi Lê, Venezuela, SriLanKa, Mông Cổ, Panama, Nga, Pháp, Anh, Đức, Áo, Nhật, Thái Lan, Lào, Philippines, Singapo…(Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có 35 tượng đài Hồ Chí Minh ở 22 quốc gia) đã tự nguyện dựng tượng đài của Bác để tưởng nhớ vị danh nhân văn hóa của thế giới. Vậy tại sao ở Việt Nam lại không, nhân dân Việt Nam không những xây dựng, mà còn phải xây dựng thật nhiều tượng đài và công trình lưu niệm liên quan đến lãnh tụ Hồ Chí Minh mới đúng, việc xây dựng tượng đài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xuất phát từ sự ghi nhận, lòng thành kính và biết ơn vô hạn đối với công lao trời biển của Người. Ý nghĩa của tượng đài và các công trình lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh là rất lớn, là những tư liệu vô giá, những giáo án sống động, là những tài liệu biết nói để minh chứng và giáo dục cho các thế hệ hiện tại và mai sau về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và thế giới. Những giá trị đó không thể đưa ra cân đo, đong, đếm và so sánh cơ học đơn thuần với một vài con số về kinh phí. Tại sao Nguyễn Văn Đài không hiểu được điều đó? Hay vì ghen tỵ, vì ngu muội, mơ hồ, thiếu hiểu biết, hay là động cơ đen tối, phản động, tay sai bởi những đồng tiền bố thí của các thế lực thù địch mới có những bài viết như vậy?

Qua đó cho thấy bài viết của Nguyễn Văn Đài hết sức mâu thuẫn và phản động, bản thân Nguyễn Văn Đài là người Việt Nam mà lại có suy nghĩ như vậy, chứng tỏ y là “kẻ phản động”, “vô ơn, bạc nghĩa”, kẻ “ăn cây táo, rào cây sung”, làm tay sai cho các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta cần vạch rõ bộ thật của y để đấu đánh, phê phán và loại bỏ./.

                                                                                       PQH3

 

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2022

CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH NGĂN NGỪA NHỮNG BIỂU HIỆN PHẢN VĂN HÓA Ở CÁC ĐƠN VỊ TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Văn hóa trong Quân đội là sự hòa quyện các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam với những đặc trưng văn hóa của hoạt động quân sự. Để đạt mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá Quân đội với các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Do vậy, chủ động đấu tranh ngăn ngừa mọi biểu hiện phản văn hóa để Quân đội luôn là môi trường mẫu mực, điển hình về văn hóa và là trung tâm giáo dục, rèn luyện bộ đội về phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới.

.         Quân đội với vai trò là trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ cả về lý tưởng, phẩm chất, năng lực, lối sống, thì không thể để cho sự tồn tại của những biểu hiện phản văn hóa len lỏi trong môi trường hoạt động quân sự. Hiện nay, bên cạnh những tiêu cực bên ngoài xã hội tác động đến tâm lý, tình cảm của bộ đội, thì các thế lực thù địch ra sức lợi dụng không gian mạng, dùng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm hiểm nhằm thẩm thấu những nội dung văn hóa xấu độc vào trong môi trường quân đội, hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ chạy theo ham muốn tầm thường, từ đó nhạt phai lý tưởng, xa rời mục tiêu chiến đấu, v.v. Bởi vậy, nêu cao cảnh giác và đấu tranh ngăn ngừa các biểu hiện phản văn hóa ở các đơn vị hiện nay cần được tiến hành chủ động, tích cực, kiên quyết với những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp giá trị văn hóa làm chuyển biến từ nhận thức tới hành động cho cán bộ, chiến sĩ. Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”1, các đơn vị cần tập trung giáo dục lòng tự hào truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, bồi đắp phẩm chất nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, người quân nhân cách mạng. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; coi trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống; giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị, nhất là nội dung về xây dựng nền nếp chính quy; gắn giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng với hoạt động huấn luyện, rèn luyện bộ đội. Cùng với giáo dục, bồi đắp các chân giá trị văn hóa, cần đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, đấu tranh phê phán những biểu hiện lệch chuẩn giá trị, những thói hư, tật xấu. Tổ chức tốt phong trào Thi đua Quyết thắng, thực hiện hiệu quả là Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 08/7/2016 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị Quân đội”. Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa sự phản văn hóa, thực hiện phương châm kết hợp giữa “xây” và “chống”, lấy “cái đẹp” dẹp “cái xấu”. Thời gian qua, Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đã góp phần quán triệt, hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người mới xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ đời sống của cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, bồi đắp, củng cố, phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Tuy nhiên, vẫn còn “Một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cơ quan, đơn vị và cơ quan chức năng chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ vai trò, ý nghĩa, tính toàn diện và mục tiêu của Cuộc vận động”2. Trước yêu cầu mới, để Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị Quân đội” đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, cần tập trung xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần lành mạnh, phong phú; hướng mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ tới những chuẩn mực giá trị văn hóa trong môi trường văn hóa quân sự. Xây dựng các quan hệ văn hóa văn minh, lành mạnh.

Ba là, phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên. Giá trị văn hóa nhân cách ở mỗi cá nhân được hình thành, phát triển tuân theo quy luật về sự tích hợp và lan tỏa văn hóa. Nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa nhân cách của cán bộ, chiến sĩ. Nhận rõ vai trò của nêu gương trong lãnh đạo, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”3. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08i-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), “Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”. Nội dung là toàn diện, song trọng tâm là: đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Bốn là, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy, tăng cường kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm. Đây là giải pháp nhằm ngăn ngừa những tác động tiêu cực từ bên ngoài, kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện phản văn hóa nảy sinh trong đơn vị. Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của hệ thống chỉ huy các cấp cần được tiến hành một cách đồng bộ: từ việc đổi mới, hoàn thiện các quy chế, quy định đến vận hành hệ thống chỉ huy, quản lý hiệu lực, hiệu quả. Trong đó, cần làm tốt từ công tác tuyển sinh đầu vào, tuyển quân hằng năm; kiên quyết không để các đối tượng không đủ tiêu chuẩn “lọt” vào cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở tiêu chí chung, các cấp, các ngành cần cụ thể hóa và xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đạo đức về văn hóa công vụ riêng cho ngành mình trong xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa văn hóa, đạo đức với pháp luật cho mọi quân nhân. Thực hiện tốt các quy chế, quy định trong giáo dục chính trị, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và các chế độ quy định của đơn vị, nhất là quy định về tham gia mạng xã hội của quân nhân: không truy cập trang tin xấu độc, không bình luận tán đồng, ủng hộ quan điểm, luận điệu tiêu cực, sai trái trên các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội, v.v. Coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, duy trì thực hiện tốt các khâu, các bước: nắm, quản lý, dự báo, định hướng và xử lý tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, bảo vệ chính trị nội bộ, tổ chiến sĩ bảo vệ ở đơn vị; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, nhất là vi phạm đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ ” đã có nền tảng ngay từ khi thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội hãy góp sức mình để nét đẹp truyền thống đó ngày càng được bồi đắp, trở thành giá trị vĩnh hằng. Lấy cái đẹp dẹp cái xấu, không để “con sâu làm rầu nồi canh”; nêu cao cảnh giác nhận diện và đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với mọi biểu hiện phản văn hóa, không để văn hóa xấu độc thâm nhập vào đơn vị. Việc này, cần sự vào cuộc của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và mọi cán bộ, chiến sĩ để lưu giữ và nhân lên giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, góp phần “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”4./.

PQV-H8

NGUY CƠ PHAI NHẠT BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

 

“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được kịp thời chấn chỉnh. Qua những chặng đường lịch sử của dân tộc, từ quá trình dựng nước, giữ nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng chúng ta luôn hướng đến một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm, và xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Khi lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ nhận thức, nắm bắt các vấn đề mới của thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung nội dung mới cho khái niệm văn hóa, để văn hóa luôn “soi đường cho quốc dân đi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Từ năm 1943, “Đề cương văn hóa” của Đảng đã nêu lên ba yếu tố then chốt, là mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc - đại chúng - khoa học. Vì thế, từ quá trình vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chúng ta đã xây dựng được vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay như Đảng ta tổng kết. Đó chính là di sản lớn lao thấm đẫm mồ hôi và máu của bao lớp đồng chí, đồng bào đi trước mà thế hệ hôm nay và mai sau phải giữ gìn, phát huy; cũng là kế tục xứng đáng các giá trị cốt lõi của truyền thống anh hùng, đầy tính nhân văn đã được cha ông xây dựng từ hàng nghìn năm trước, và trao lại cho chúng ta. Có thể thấy, khi đề ra đường lối phát triển văn hóa Việt Nam, dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, Đảng ta cũng luôn đề cao tính dân tộc. Và nổi lên là bản sắc văn hóa dân tộc với những giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ tiên, ông cha phải được giữ gìn, phát huy. Có thể coi đây chính là “tấm căn cước” để mỗi người Việt Nam hội nhập với thế giới.

Văn hóa còn thì dân tộc còn là ở đó. Hòa nhập song không hòa tan cũng ở đó. Truyền thống tốt đẹp khi biết giữ gìn và phát huy không hề mâu thuẫn, đối lập với đổi mới, tiến bộ, hiện đại. Bởi, trong tổng hòa nguồn lực để xây dựng văn hóa hôm nay, có các giá trị được cha ông tạo dựng từ quá khứ. Tuy vậy nhìn vào bối cảnh hiện tại, dù chúng ta đã làm được rất nhiều điều tốt đẹp cho xã hội - con người, thì vẫn phải thẳng thắn nói rằng vẫn còn có không ít biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa đáng băn khoăn, trăn trở. Đó là những biểu hiện lệch lạc, nông cạn trong nhận thức về văn hóa của một bộ phận xã hội./.

NTH-H4

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG - VẤN ĐỀ HỆ TRỌNG !

 


Chỉ còn 10 ngày nữa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chính thức khai mạc. Để Đại hội thành công, trở thành một trong những dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng, có ý nghĩa định hướng và tầm nhìn chiến lược cho tương lai, một trong những việc cần quan tâm đặc biệt là công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội.

Thực tế cho thấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là vào những thời điểm quyết định hoặc có tính bước ngoặt, vận nước đặt tất cả vào đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Lênin từng nói: “Hãy cho tôi một tổ chức những người cách mạng, tôi sẽ làm đảo lộn cả nước Nga”. Bác Hồ đã dạy: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Suy cho cùng, cán bộ là khâu quyết định trước hết. Vì cán bộ là người làm ra đường lối, thiết lập nên tổ chức bộ máy, định vị ra cơ chế vận hành của tổ chức bộ máy. Cán bộ cũng là người lãnh đạo chỉ đạo, đồng thời trực tiếp tổ chức thực hiện để đưa đường lối vào thực tiễn cuộc sống.

Chính vì tầm quan trọng như vậy nên công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung cao độ. Để chuẩn bị tốt các nội dung của Đại hội XIII của Đảng, tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập 5 tiểu ban, gồm: Tiểu ban văn kiện, Tiểu ban nhân sự, Tiểu ban kinh tế - xã hội, Tiểu ban điều lệ Đảng, Tiểu ban tổ chức và phục vụ Đại hội. Vì tính chất quan trọng của hai nội dung văn kiện và nhân sự đại hội nên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trực tiếp làm Trưởng Tiểu ban văn kiện và Tiểu ban nhân sự.

Vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng là phải xác định đúng yêu cầu xây dựng Ban Chấp hành Trung ương mà hạt nhân là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt của Đảng. Ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết “Chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”. Trong đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh không bỏ sót những người thực sự có đức, có tài, có tín nhiệm trong Đảng, nhân dân nhưng cũng kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng vào Ban Chấp hành Trung ương.

Tiếp đó, trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 12, khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rất rõ những khuyết điểm mà nếu ai mắc phải thì không thể để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương, cụ thể như sau: (1) Bản lĩnh chính trị không vững vàng; không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng; có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; thiếu chính kiến, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh. (2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, không công bằng, công minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình. (3) Để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị. (4) Không chịu nghiên cứu học hỏi; bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói nhiều làm ít, nói không đi đôi với làm. (5) Ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức, uy tín thấp. (6) Kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân hoặc vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính. (7) Vi phạm quy định về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.

Như vậy có thể nói, công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng đã được chuẩn bị một cách bài bản, kỹ lưỡng, thận trọng, chặt chẽ, làm từng bước, từng việc, từng khâu, bảo đảm dân chủ, khách quan, công tâm, đúng như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng là phải vì cái chung, vì cái lớn, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, không được phép vì những động cơ cá nhân, cơ hội, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền...

Đất nước đang đứng trước những vận hội lớn. Thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong đó có công tác nhân sự với việc lựa chọn được những cán bộ, đảng viên thực sự xứng đáng, có đủ tài, đủ đức, đủ bản lĩnh chính trị vào Ban Chấp hành Trung ương sẽ là cơ sở quan trọng để đất nước tiếp tục phát triển, tiến lên thịnh vượng.

LNK.H1