CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI BÁC HỒ DẠY MỖI NGÀY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỜI BÁC HỒ DẠY MỖI NGÀY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2023

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Qua nghiên cứu Quy định số 41 -QĐ/TW của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, bản thân tôi nhận thấy, văn hóa từ chức là văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử dựa trên lương tâm và trách nhiệm, cho thấy sự hiểu biết của người nắm giữ chức vụ. Có thể thấy, đây là sự tự nguyện của những người có đủ dũng khí, lòng tự trọng, tự nguyện từ chức nên cần được khuyến khích và xem đây là nét văn hóa đẹp, không nên nặng nề đối với những người tự nguyện từ chức.

Thời gian qua, Đảng ta đã quyết tâm thực hiện công tác xây dựng và chỉnh đốn đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, quyết tâm làm trong sạch nội bộ Đảng, trong sạch bộ máy chính quyền, Nhà nước. Với kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua cho thấy sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta, và đã nhận được sự đồng thuận rất cao của toàn xã hội.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, trên trang Facebook Chân Trời Mới Media, đối tượng Trần Nhung tán phát bài “Từ chức sao khó lắm thay”, nội dung xuyên tạc Quy định số 41 -QĐ/TW của Bộ Chính trị về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; vu cáo cán bộ trung, cao cấp trở lên “chỉ có nghề làm lãnh đạo mà không có chuyên môn nghiệp vụ”; bôi nhọ, nói xấu công tác phòng chống tham nhũng và công tác cán bộ của Đảng; đồng thời kích động gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng.

Dễ dàng để chúng ta nhận ra đây chính là những luận điệu xuyên tạc, vu cáo hoàn toàn vô căn cứ của đối tượng Trần Nhung, nhằm mục đích kích động gây chia rẽ khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng và mối đoàn kết giữa Đảng với nhân dân. Làm gây mất niền tin của nhân dân đối với Đảng. Hòng chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta.

Đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc, kích động, vu cáo của các thế lực thù địch là nhiệm vụ quan trọng và hết sức cấp thiết. Nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải sáng suốt, hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm, thành phần lợi dụng không gian mạng để vu cáo, kích động, phá hoại./.

NĐL-H3

 

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1

 

 Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam. Đối với quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nói chung và Trường Sĩ quan Lục quân 1 nói riêng, văn hóa là yếu tố giúp cho mỗi đơn vị luôn gắn kết chặt chẽ tình đồng chí, đồng đội, giữa cá nhân với tập thể, góp phần bồi đắp thêm bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, tình cảm, trách nhiệm, tính kỷ luật, tác phong chính quy, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, Trường Sĩ quan Lục quân 1 đã đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, bồi đắp thêm phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ.

Trường Sĩ quan Lục quân 1 là nơi đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho quân đội. Nhiệm vụ xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển, đặt ra yêu cầu phải xây dựng Nhà trường thật sự vững mạnh, trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự. Yêu cầu đó đòi hỏi mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ với tư cách vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể xây dựng đời sống văn hóa, cần nhận thức sâu sắc vai trò của việc xây dựng đời sống văn hóa đồng thời, có trách nhiệm tích cực, trực tiếp tham gia xây dựng đời văn hóa phong phú, lành mạnh ở trong nhà trường.

Xây dựng đời sống văn hóa tại là kiến tạo một môi trường lành mạnh, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nếp sống cho mỗi cán bộ, học viên; làm phong phú đời sống tinh thần của mỗi cán bộ, học viên; góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao. Trên cơ sở Quyết định số 01/2000/QĐ-BCĐ ngày 12-4-2000 của Ban Chỉ đạo Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa về việc ban hành kế hoạch triển khai phong trào, công tác xây dựng đời sống văn hóa, căn cứ tình hình thực tế các đơn vị, nội dung trong xây dựng đời sống văn hóa tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 được xác định là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, học viên là chủ thể các hoạt động văn hóa; xây dựng môi trường văn hóa: Trước hết là phẩm chất đạo đức, lối sống, phẩm chất chính trị, giá trị trong quan hệ ứng xử xã hội, hình thành những khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử, thói quen, nếp sống văn hóa của cá nhân trong mối quan hệ với môi trường xung quanh, dựa trên những chuẩn mực xã hội hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ; xây dựng các thiết chế văn hóa và cảnh quan văn hóa, tạo môi trường văn hóa lành mạnh cho cán bộ, học viên rèn luyện; tổ chức các hoạt động văn hóa như văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt chính trị, hoạt động tình nguyện, hoạt động giáo dục... hướng đến các giá trị phẩm chất đạo đức, chính trị, chuyên môn, nếp sống sinh hoạt vui chơi giải trí, ứng xử xã hội...

Đặc điểm xây dựng đời sống văn hóa tại Trường Sĩ quan Lục quân 1

Cán bộ, học viện trong Nhà trường là những người được tuyển chọn, rèn luyện trong một môi trường đặc biệt với những đặc thù riêng của quân đội nhằm đào tạo ra những sĩ quan có đủ năng lực về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Đội ngũ cán bộ, học viên tại có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có kiến thức toàn diện, chuyên sâu về công tác đảng, công tác chính trị, về khoa học quân sự; có năng lực lãnh đạo, chỉ huy quản lý hoàn thành tốt nhiệm vụ, khẳng định được vị trí, vai trò và uy tín trên cương vị công tác, nhiều đồng chí đã phát triển trở thành tướng lĩnh trong quân đội, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước và nhà khoa học có uy tín.

Với đặc trưng là lực lượng vũ trang, được rèn luyện trong môi trường đặc biệt, nên đời sống văn hóa ở Nhà trường thể hiện rõ nhất là tính kỷ luật cao, tác phong làm việc khoa học, lễ tiết, tuân thủ những nội quy, điều lệnh, kế hoạch hoạt động... một cách nghiêm túc. Tính kỷ luật cao được thể hiện qua việc người sĩ quan quân đội phải nghiêm chỉnh chấp hành điều lệnh QĐND, học tập và thực hiện nghiêm chỉnh 10 lời thề và 12 điều kỷ luật quân đội, chấp hành các nội quy, quy chế của nhà trường trong học tập, rèn luyện, sinh hoạt. Thông qua việc rèn luyện thường xuyên, bài bản, khoa học, dần dần đã hình thành tính tự giác kỷ luật cao trong quân đội. Và đây là một yếu tố rất quan trọng đối với việc hình thành đời sống văn hóa.

Cán bộ, học viên có ý thức học tập, rèn luyện và phấn đấu thực hiện nghiêm chỉnh theo điều lệnh Quân đội và những lời Bác Hồ dạy QĐND. Việc học tập, rèn luyện tập trung có nhiều điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất và tiếp cận với các loại tài liệu, sách báo... giúp nâng cao văn hóa ứng xử của cán bộ, học viên, chiến sĩ của Nhà trường.

Cán bộ, học viên ngoài hoạt động giáo dục, đào tạo còn tham gia các hoạt động thể dục thể thao, các hoạt động văn hóa văn nghệ, tham gia tập điều lệnh. Đó là những hoạt động mang tính tập trung cao. Điều đó tạo nên những nét tâm lý riêng như sự đoàn kết chặt chẽ, sự tích cực và năng động của học viên. Do yêu cầu của quân đội, đòi hỏi mỗi cán bộ, học viên có sự kiên định về chính trị, gương mẫu về đạo đức, tinh thông về nghiệp vụ và kiến thức về pháp luật nên trong suy nghĩ của học viên đã có sự định hình tương đối rõ rệt về mục tiêu của bản thân, qua đó không ngừng học tập và tích lũy kiến thức phục vụ công tác sau này.

Vai trò xây dựng đời sống văn hóa tại Trường Sĩ quan Lục quân 1

Xây dựng đời sống văn hóa góp phần hình thành nhân cách người sĩ quan Quân đội

Xây dựng đời sống văn hóa tại Nhà trường góp phần đào tạo các sĩ quan quân đội có tính kỷ luật cao, tác phong làm việc khoa học, lễ tiết, tuân thủ những nội quy, điều lệnh, kế hoạch hoạt động... một cách nghiêm túc. Người sĩ quan quân đội có sự hiểu biết về kiến thức khoa học xã hội nhân văn, luôn chú trọng giáo dục kiến thức khoa học, nhằm nâng cao sự hiểu biết về kiến thức văn hóa, đời sống, xã hội học. Điều đó làm nên nền tảng, cái gốc cho sự hình thành văn hóa cho người sĩ quan phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của nhà trường, với Điều lệnh quân đội, với các phong tục tập quán, nét truyền thống của dân tộc. Thông qua việc xây dựng đời sống văn hóa, người sĩ quan quân đội có thể hình thành việc ứng xử linh hoạt trong hoạt động nghề nghiệp, học tập, rèn luyện, sinh hoạt của mình. Có thể nói, việc xây dựng đời sống văn hóa có vai trò rất lớn đến việc hình thành văn hóa ứng xử, nếp sống văn hóa tích cực trong quân đội.

Trong một môi trường giáo dục đặc thù, việc ảnh hưởng và định hướng xây dựng đời sống văn hóa có nét riêng chỉ có trong lực lượng quân đội mới có. Công tác xây dựng đời sống văn hóa được coi là vấn đề có tầm quan trọng cần quan tâm, chú ý xây dựng.

Xây dựng đời sống văn hóa đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam

Xây dựng đời sống văn hóa ở Nhà trường chính là xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa (cả về vật chất và tinh thần), nhằm hình thành những nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện cho đội ngũ cán bộ, sĩ quan trong tương lai. Xây dựng đời sống văn hóa chính là tác động vào các yếu tố con người văn hóa, giá trị văn hóa, các hoạt động văn hóa, các quan hệ văn hóa và các thiết chế, cảnh quan văn hóa, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội của từng cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ…; từng tập thể và cộng đồng, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ trong đơn vị, tạo ra đời sống tinh thần phong phú, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

 Xây dựng đời sống văn hóa góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, củng cố đoàn kết quân dân; động viên cán bộ chiến sĩ phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của đơn vị; giải quyết những yêu cầu thiết yếu nhất của đơn vị cũng như của các cá nhân.

Việc xây dựng đời sống văn hóa có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Kết quả rõ nét nhất mà hoạt động xây dựng đời sống văn hóa mang lại là động viên mọi cán bộ chiến sĩ tích cực làm việc, làm sâu sắc hơn tinh thần tương thân, tương ái trợ giúp nhau, làm cho đời sống tinh thần, vật chất được cải thiện rõ rệt. Xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh môi trường xã hội, môi trường quân đội, môi trường giáo dục, quan hệ ứng xử trong cộng đồng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, tuân thủ luật pháp và quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia phòng chống các tệ nạn xã hội. Hoạt động xây dựng đời sống văn hóa góp phần hình thành một lối sống, nếp sống văn minh, lịch sự trong đời sống, công tác của cán bộ, chiến sĩ.

HVH-BS

 

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2022

KHÔNG THỂ SUY DIỄN VÀ BẺ CONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

 

Thực hiện theo những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác phát triển Đảng luôn được thực hiện nghiêm túc để Đảng thường xuyên tăng thêm nguồn sinh lực, sức chiến đấu, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc và bôi đen công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, phải kể đến một số luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường rêu rao là: Hiện nay, tình trạng "nhạt Đảng, xa Đoàn" trở nên phổ biến trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên; các thủ tục để trở thành đảng viên rườm rà, gây ức chế cho người muốn vào Đảng, nên quần chúng không ham; nhất là, sự bịa đặt trắng trợn rằng "vào Đảng chả ích lợi gì" nên quần chúng không muốn phấn đấu vào Đảng…

Về vấn đề này, cần phải khẳng định chắc chắn rằng:

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC

Khi nói về chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(1).

Cùng với đó, “Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức, tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp bóc lột.

Ở Việt Nam, được xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”(2). Trong từng giai đoạn cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.

Từ quy định trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng. Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường; đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu, trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào”(3) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.

Để làm tròn nhiệm vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(4), song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân”(5). Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần chúng”(6), thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời, các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng là trọng chất hơn lượng”(7) để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.

Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Nếu Đảng ta không biết chọn lọc, kết nạp, đề bạt đồng chí mới thì đâu có như ngày nay”(8) và nếu không được bổ sung nguồn sinh lực thì Đảng đâu có đủ năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để đảm đương vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo như đã hiến định trong Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, xuyên suốt 9 thập niên xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác phát triển Đảng, coi đó là một nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa thường xuyên và lâu dài.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên"(9) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước"(10) cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.

Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.

Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(11). Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.

Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công!

Nguyễn Văn Đại - d20 (st)

-----------------------------

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Sự thật, H, 1983, t.4, tr.614-615.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1998, t.2, tr.7.

(3) (4) (5) (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.15, tr.291-292, 113, 292, 112.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.419.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.187.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.276.

(10) Hương Diệp: Thực trạng và giải pháp phát triển đảng viên là đoàn viên, thanh niên trong tình hình mới, mattran.org.vn, ngày 2/11/2021

(11) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t. II, tr.229.

 

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

MẠNG XÃ HỘI – CỬA NGÕ THÔNG TIN HAY LÀ CÔNG CỤ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Sự ra đời của internet, tiếp đó là mạng xã hội (MXH) về mặt khoa học, công nghệ (KHCN) mở ra một thời đại mới cho nhân loại. Nhờ internet, MXH mà con người nhận được thông tin không bị hạn chế bởi vị thế xã hội, tức thì… ở mọi nơi trên thế giới. Dựa trên internet, MXH, ngày nay với máy vi tính (computer), điện thoại thông minh (smartphone) con người có thể tra cứu và trao đổi thông tin ở bất cứ đâu về mọi chủ đề. Nhiều người cho rằng internet, MXH đã tạo ra một thế giới thứ hai-thế giới mạng-thế giới ảo. Các nhà khoa học thì cho rằng với internet, MXH, nhân loại có thêm một hệ sinh thái mới-hệ sinh thái số. Đó là một hệ thống thông tin trên tất cả lĩnh vực được lưu giữ có thể dễ dàng tìm kiếm (trên Wikipedia) và nhiều công cụ tìm kiếm, trao đổi thư từ (trên Google, Yahoo) và tương tác trực tuyến trên Facebook.

Thế nhưng trong hệ sinh thái số, thế giới ảo lại đặt ra nhiều thách thức đối với nhân loại, nhất là việc đánh giá tính chân thực của thông tin từ những việc đơn giản như mua hàng trên mạng cho đến những vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền riêng tư của cá nhân... Khác với thế giới thực, những thông tin mà người ta có được trên thế giới ảo khó kiểm chứng. Điều này, dẫn đến kẻ xấu có thể lợi dụng internet, MXH vì những mục tiêu không tốt, như: Đưa thông tin giật gân, câu view, câu like; đưa thông tin về đời tư do hẹp hòi, ích kỷ, định kiến cá nhân... Thông tin sai sự thật không những ảnh hưởng đến xã hội, mà thậm chí có người đã tìm đến cái chết thương tâm... Ở Việt Nam, trên lĩnh vực chính trị, những phần tử cơ hội đã lợi dụng internet, MXH để nhằm vào việc chống phá, hòng lật đổ chính quyền nhân dân, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), như: Xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam; bôi nhọ chính quyền các cấp… kêu gọi người dân biểu tình, gây rối…

Vừa qua, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Lê Đình Lượng (sinh năm 1965) trú tại xóm 9, xã Hợp Thành (Yên Thành, Nghệ An), bị truy tố về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo cáo trạng, liên tục trong thời gian dài, Lượng lập tài khoản trên Facebook để tán phát hàng trăm thông tin, clip có nội dung chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, kích động tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh trật tự. Trước đó, nhiều bị cáo, như: Trần Thị Nga (Hà Nam), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Đà Nẵng) cũng có hành vi tương tự-lập tài khoản trên MXH, tán phát bài viết, các clip với nội dung thông tin  bịa đặt nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tất cả các đối tượng nêu trên đều bị cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Các thế lực thiếu thiện cảm với Việt Nam ở nước ngoài cũng sớm lợi dụng internet, MXH để đưa thông tin can thiệp, chống phá chế độ xã hội, Nhà nước Việt Nam. Điển hình là hằng năm Hoa Kỳ công bố hai bản Phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền và tình hình tôn giáo trên thế giới đăng trên trang web của Bộ Ngoại giao và sứ quán Hoa Kỳ, sau đó được các cơ quan báo chí, hãng thông tấn phương Tây, như: BBC, RFA, VOA, RFI đưa lại. Trong các bản “Phúc trình” nói trên, Hoa Kỳ thường xuyên tạc chính sách, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là xuyên tạc quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do internet ở Việt Nam. Chứng cứ mà họ bao biện cho hành vi của mình thường là những vụ án về tội phạm lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí, lợi dụng internet, MXH để tán phát các thông tin xấu độc chống phá chế độ xã hội và Nhà nước Việt Nam.

Gần đây, trong dịp Quốc hội khóa XIV thảo luận về dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc (gọi tắt là dự án Luật Đặc khu) và Luật An ninh mạng, nhiều trang mạng phương Tây cho rằng cơ quan chức năng của Việt Nam đã sử dụng “hai điều luật cực kỳ mơ hồ trong Bộ Luật Hình sự là Điều 88 về tội “tuyên truyền chống nhà nước” và Điều 258 về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” để bắt bớ và bỏ tù nhiều người bất đồng chính kiến”. Những cuộc biểu tình, gây rối (ngày 10 và 11/6/2018) ở một số địa phương gần đây với cái cớ là phản đối dự án Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng, thực tế là đã có bàn tay của các thế lực thù địch ở nước ngoài lợi dụng internet, MXH để kích động nhân dân chống lại chính quyền. Nối tiếp những hành động trên, ngày 12/7/2018, một số nghị sĩ cực hữu Hoa Kỳ (nhóm Vietnam Caucus) soạn thảo văn bản, “kêu gọi” lãnh đạo công ty Facebook và Google không chuyển văn phòng lưu trữ dữ liệu cá nhân người dùng ở nước ngoài về Việt Nam.

Hiến pháp 2013 dành cả Chương II quy định về “QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Thể chế hóa Hiến pháp 2013, Quốc hội Việt Nam đã chỉnh sửa và xây dựng nhiều văn bản luật nhằm bảo đảm những quyền trên. Trước Hiến pháp 2013, Chính phủ đã ban hành nghị định về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng” (15/7/2013). Trong nghị định này, Chính phủ xác định chính sách phát triển, quản lý internet của Nhà nước Việt Nam là: “Thúc đẩy việc sử dụng internet…; khuyến khích phát triển ứng dụng tiếng Việt…; phát triển hạ tầng internet băng rộng… chú trọng việc phổ cập dịch vụ internet ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; ngăn chặn những hành vi lợi dụng internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục...”.

Trên thực tế, việc bảo đảm QCN trong lĩnh vực tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin được Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện khá sớm. Việt Nam hòa mạng internet toàn cầu từ ngày 1-12-1997. Theo tổ chức nghiên cứu về MXH quốc tế-Next Web, hiện nay Việt Nam nằm trong "Top 10 quốc gia có nhiều người dùng Facebook nhất thế giới" với 64 triệu người, chiếm 3% tổng số tài khoản Facebook toàn cầu. Người dân có thể đăng lên mạng và tải về các video/clip hoàn toàn không bị cấm đoán nếu không vi phạm pháp luật.

Ngoài các đài phát thanh, truyền hình quốc gia và các tỉnh, thành phố, hiện nay Việt Nam có tới 74 báo và tạp chí điện tử, 336 MXH, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động. Giá dịch vụ internet ở Việt Nam vào loại rẻ nhất khu vực. Người nước ngoài và người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times… mà không có bất kỳ hạn chế nào.

Như vậy, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với bảo đảm QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong điều kiện internet, MXH là đầy đủ, thuận lợi. Tuy nhiên, khi sử dụng internet, MXH cần nhận thức đúng về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đó là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật; thực hiện đúng những hạn chế quyền, nhằm bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Điều này, không chỉ là trách nhiệm về chính trị, pháp lý mà còn thuộc về đạo đức, lối sống của mỗi người và cũng là quy định của nhiều quốc gia trên thế giới.

DTS-BS

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

LỐI ÁP ĐẶT LỖI THỜI

 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bất mãn và cơ hội chính trị nhằm ngăn cản nỗ lực phát triển của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, việc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem như “căn bệnh quy chụp mãn tính”, với mục tiêu sâu xa là gây mất ổn định về chính trị, gây chia rẽ nội bộ, khiến nhân dân hoang mang, dao động về tương lai của đất nước.

Một trong những chiêu bài đó là xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, cho rằng Đảng ta “chuyên quyền”, “độc đoán”, không đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân mà chỉ khiến dân tộc thụt lùi. Từ luận điệu này, nhiều đối tượng kêu gọi nhân dân “thức tỉnh”, “cất cao tiếng nói vì sự tồn vong của dân tộc” và đi ngược hướng với với con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Thậm chí, họ còn đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bên cạnh đó, trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao để khiến nhân dân hoài nghi, bất mãn, mất lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, những luận điệu kiểu này thường được phát tán với mức độ dày đặc mỗi khi trong nước xuất hiện các hiện tượng tiêu cực, nhất là tình trạng tham nhũng.

Thực tế cho thấy, sau khi lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu mang tính lịch sử trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng đi lên CNXH.

Qua hơn 35 năm đổi mới, từ chỗ phải đối diện với cảnh nghèo nàn, cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội lạc hậu, Việt Nam nay đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình; quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên; đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện.

Trong Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam mới công bố trong tháng 11 này, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định, dù phải đối mặt với nhiều trở ngại trong việc khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian cách ly xã hội kéo dài vì đại dịch, song kinh tế Việt Nam đang cho thấy những dấu hiệu cải thiện và phục hồi. 

Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 cũng cho thấy, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước không chỉ quan tâm tới việc đưa đất nước phát triển nhanh về kinh tế, mà còn ưu tiên bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.

Quan trọng hơn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sự ổn định về chính trị, xã hội, độc lập, chủ quyền được giữ vững; uy tín và vị thế đất nước trên trường quốc tế cũng chưa bao giờ lớn mạnh như hiện nay.

Những thành quả ấy được khẳng định bằng những đánh giá thẳng thắn của cộng đồng quốc tế. Ông Vojtech Fillip, Phó chủ tịch thứ nhất Hạ viện Cộng hòa Séc, Chủ tịch Đảng Cộng sản Séc-Morava (KSČM) từng nói rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng được khẳng định thông qua những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội cũng như nâng cao uy tín trên trường quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không chỉ ở khu vực Đông Nam Á mà còn trên thế giới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được đánh giá cao không chỉ ở các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa trước đây mà cả đối với các nước phương Tây.

Tại một hội thảo được tổ chức vào đầu năm 2020 nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Philip Fernandez, thành viên của CVFS, đảng viên Đảng Cộng sản Canada, nhấn mạnh: "Uy tín và vị thế cao của Việt Nam trên trường quốc tế đã phản ánh sức mạnh chính trị và ý thức hệ của Đảng, cũng như khả năng tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam khi tìm ra phương hướng trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, và cùng với sự tham gia của nhân dân để đưa ra chương trình nghị sự nhằm xây dựng một nước Việt Nam hiện đại”. Và, việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối bắt nguồn từ đâu nếu không phải từ niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với Đảng Cộng sản Việt Nam?

Những thành quả mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể phủ nhận. 

Chiêu bài cố tình nhồi nhét, áp đặt dư luận bằng những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam  thực sự nó đã lỗi thời!

CXN-H2

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

HỌC VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI

  

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”(1). Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.

Việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào lò” của cácthế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.

Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết qủa này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương…

--------------------

Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội,1990, tr.158-159

NCB-H4

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2022

MÀI SẮC VŨ KHÍ TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH, QUÉT SẠCH CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân - vết tích xấu xa của xã hội cũ là kẻ địch “nội xâm”; là thứ vi trùng mẹ “rất gian giảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Mà ai cũng biết rằng xuống dốc thì dễ hơn lên dốc.

Vì thế mà càng nguy hiểm” và “chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích của riêng mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể. Miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như: Lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”... Vì thế, quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ suốt đời của mọi đảng viên.

Cũng vì sự dễ trỗi dậy, lây lan và nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, nên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cán bộ, đảng viên nếu không tự đề kháng và “miễn dịch” được trước sự cám dỗ của chủ nghĩa cá nhân thì tất yếu sẽ sa vào cá nhân chủ nghĩa, bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc, sẽ “thoái bộ và lạc hậu”.

Những người do “cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm” là những người “ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”.

Họ không chỉ thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm mất đoàn kết nội bộ mà còn làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Họ xa rời nhân dân, xem thường quần chúng, chỉ muốn phê bình người khác nhưng không muốn người khác phê bình mình; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh, gây tổn hại đến danh dự và uy tín của Đảng...

Và cũng vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, phải phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân bằng việc thực hiện nghiêm vũ khí tự phê bình và phê bình. Đây là việc làm vừa quan trọng và cần thiết, vừa thường xuyên và lâu dài của những người đảng viên cộng sản, góp phần để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thật sự “là đạo đức, là văn minh”.

Trong rất nhiều thang thuốc để phòng, chống và đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, thì tự phê bình và phê bình là thang thuốc hữu hiệu nhất. Đó là “vũ khí” để chữa bệnh cá nhân chủ nghĩa/chủ nghĩa cá nhân, nên mỗi người, mỗi tổ chức, địa phương, cơ quan, đơn vị (gọi chung là tổ chức) cần phải sử dụng thường xuyên, nghiêm túc như “rửa mặt hằng ngày” để gột rửa sạch những vết tích, tàn dư của chế độ cũ, để trừ bỏ mọi thói hư, tật xấu trong người. Vì tự phê bình và phê bình là “vũ khí” sắc bén, nên cá nhân, tổ chức sử dụng vũ khí đều phải dùng đúng chức năng, công năng, đúng hoàn cảnh, thời điểm... mới bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất.

Cụ thể, theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là “cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ”, “cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn”, “cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”, nên khi tiến hành vừa “phải kiên quyết, ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt” vừa "phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Trong đó, tự phê bình là quá trình tự soi chính bản thân mình, nên khi soi phải đồng thời “nêu ưu điểm và vạch ra khuyết điểm của mình”. Đối với khuyết điểm của bản thân thì phải “thật thà nhận, công khai nhận trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.

Việc tự đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm này sẽ giúp bản thân: Một mặt, thấy được “cái hay”, “cái dở” của mình; mặt khác, làm cơ sở cho những người xung quanh đóng góp ý kiến, nhằm sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Phê bình là để giúp người, nên cũng phải đồng thời “vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm” của đồng chí mình, để có lỗi thì sửa, có ưu điểm thì phát huy. Trong khi phê bình, việc vừa tham gia góp ý kiến và chỉ ra cách thức, biện pháp khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, hạn chế, sai lầm để ngày càng tiến bộ; vừa cổ vũ, động viên đồng chí mình phát huy những ưu điểm, những cách làm hay, những việc làm tốt... sẽ góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động của mỗi tổ chức.

Để “mài sắc” vũ khí tự phê bình và phê bình, thì người phê bình người khác không chỉ phải luôn khách quan, trung thực, công khai, thẳng thắn, chân thành, có tình, có lý mà còn phải cung cấp thông tin, dẫn chứng chính xác, “không đặt điều”, “không thêm bớt” làm cho người được góp ý tâm phục, khẩu phục. Khi phê bình, cần lựa chọn phương pháp thích hợp trong lời nói, giọng nói, cách nói, nhất là phải phát ngôn đúng nơi, đúng chỗ; tránh kiểu ba phải, thành kiến, xu nịnh, dựa dẫm, “thói đạo đức giả” và nhất là tránh dùng lời lẽ mỉa mai, chua cay, “đâm thọc”, gây khó chịu, khó tiếp thu, gây tự ái hoặc hiểu nhầm cho người bị phê bình.

Còn người bị phê bình cũng cần phòng và tránh sự bức xúc, mất bình tĩnh, phản ứng gay gắt dẫn đến to tiếng, phát ngôn thiếu văn hóa hoặc có thái độ thách thức, khiêu khích người đang phê bình mình; nhất là cần tránh việc nhận khuyết điểm nhưng không tâm phục, khẩu phục, nên chỉ nhận qua loa, cho xong chuyện mà không quyết tâm sửa chữa, thậm chí vẫn tiếp tục mắc lại những khuyết điểm cũ. Riêng đối với những ý kiến góp ý chưa đúng, cần phải giải trình thì người bị phê bình cũng nên bình tĩnh, mềm dẻo, khiêm tốn và cầu thị...

Theo Hồ Chí Minh, việc mài sắc “vũ khí” tự phê bình và phê bình chỉ thực sự hữu hiệu khi người phê bình cũng như người tiếp thu ý kiến phê bình của người khác đều có động cơ trong sáng, đúng đắn, với tinh thần “phê bình việc làm, chứ không phê bình người”; khi cả hai người đều thành khẩn, thành tâm, không giấu giếm khuyết điểm của mình cũng như của đồng chí mình; đều phải tự giác nhận và vạch ra khuyết điểm của mình trước tập thể với tinh thần cầu thị, biết lắng nghe, thể hiện sự tiếp thu một cách thiện chí và quyết tâm sửa chữa.

Trong khi thực hiện “vũ khí” này, cả người tự phê bình lẫn người phê bình đều phải tránh động cơ vụ lợi, thành kiến cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi; lợi dụng phê bình để đả kích, cường điệu khuyết điểm, phủ nhận ưu điểm nhằm hạ uy tín, hạ bệ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ.

Trên thực tế, “vũ khí” tự phê bình và phê bình có nơi, có lúc chưa được “mài sắc”, chưa được thực hiện nghiêm, bởi trong từng con người, từng đơn vị vẫn còn hiện tượng “sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín” và dùng lý do “sợ mất thành tích của tập thể, của lãnh đạo” để che giấu hoặc bao che khuyết điểm, chạy tội cho đồng chí mình.

Tình trạng nể nang, né tránh, “dĩ hòa vi quý” vì sợ mất lòng, “mất phiếu”, ảnh hưởng đến lợi ích cá nhân cũng như tâm lý sợ bị phê bình nên phải phê bình người khác nhưng phê bình chiếu lệ, một chiều, mang tính hình thức-thực chất là nói để lấy lòng nhau vẫn còn. Vì thế, để “vũ khí” tự phê bình và phê bình sắc bén trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì:

Một là, duy trì và thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, hiệu quả “tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến cơ sở” gắn với nhiệm vụ chính trị, với sinh hoạt Đảng. Việc chuẩn bị tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên và mỗi tổ chức vừa phải có sự chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ của cấp ủy cấp trên, với phương châm “trị bệnh cứu người”, “thuốc đắng dã tật”, vừa phải được tiến hành chu đáo, nghiêm túc, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; phải gắn liền với việc thực hiện các nghị quyết và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh... để làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Hai là, vì tự phê bình và phê bình là quá trình tự soi, tự sửa, tự cứu mình và giúp người, vì sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự phát triển vững mạnh của tổ chức, nên “các cơ quan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa và giúp đồng chí mình sửa chữa.

Phải như thế Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành công”, chứ không chờ “có việc” mới tiến hành, có khuyết điểm mới phạt... Phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và phát huy dân chủ; đề cao tính tự giác, trách nhiệm, thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình đúng đắn, phù hợp để “vũ khí” này trở thành động lực cho mọi sự phát triển, tạo được sự biến đổi về chất trong nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức Đảng, nhân nguồn sức mạnh nội sinh trong từng cá nhân, trong từng tổ chức lên như cây nảy lộc, đơm hoa, kết trái.

Ba là, gắn tự phê bình và phê bình với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng vừa cẩn trọng vừa kịp thời, nghiêm túc, hiệu quả để đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm. Đồng thời, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cấp ủy, người đứng đầu trong tự phê bình và phê bình theo nguyên tắc tiến hành từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cấp uỷ, người đứng đầu đến cán bộ, đảng viên.

Cấp trên gương mẫu tự kiểm điểm trước để cấp dưới noi theo; tập thể kiểm điểm trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp uỷ viên và cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo kiểm điểm trước, đảng viên kiểm điểm sau. Trong kiểm điểm, cấp dưới phải mạnh dạn phê bình cấp trên; tổ chức cơ sở đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải lắng nghe ý kiến phê bình của quần chúng, để nguyên tắc tự phê bình và phê bình không chỉ bảo đảm chất lượng, hiệu quả mà còn góp phần làm tăng uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi tổ chức./.

PVH-NNTV

 

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

SỰ ''IM LẶNG'' NGUY HẠI !

 

Dân gian có câu “Im lng là vàng, vi hàm ý khuyên nh ai đó nên có thái độ khiêm nhường, nhã nhn đúng lúc đúng ch; biết im lng cn thiết khi li nói ca mình có th làm tn thương, gây hi cho người khác hoc làm rc ri thêm vn đề... Tuy nhiên trong cuc sng, s im lng không phi lúc nào cũng là vàng mà có th tr thành nguy hi cho s phát trin, như khi cán b, đảng viên thy đúng không ng h, thy sai không dám đấu tranh.

Thi gian qua, tâm lý đấu tranh, tránh đâu” và thái độ im lng có th hiu là hin tượng n nang, né tránh, ngi va chm ca nhiu cán b, đảng viên, xy ra không ít cơ quan, t chc, đơn v, được khoác tm áo đoàn kết, thng nht cao bên ngoài, còn thc tế bên trong thì hm hc, tc ti, kéo bè, kết cánh để chng đối nhau đã xy ra. Cũng có hin tượng im lng khác là không ít cán b, đảng viên không dám làm gì vì s sai nên chùng chình, không thc thi nhim v trước nhng khó khăn, bc xúc t cuc sng. C hai s im lng như trên đều gây hi cho t chc, địa phương và m rng ra là cn tr s phát trin ca đất nước.

Cách đây hơn 35 năm, Tng Bí thư Nguyn Văn Linh đã phê phán rt gay gt điu mà ông gi là s im lng đáng s để tn công vào thành trì” quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cc. S im lng đáng s là s im lng ca người có chc, có quyn câu kết, tránh né, bao che cho nhau để tham nhũng, lãng phí, tiêu cc... S im lng đáng s còn là s im lng ca người dân, ca nhng người tích cc trước nhng tiêu cc, sai trái hin hin trước mt mà không có phn ng gì. Do vy, công khai ch ra Nhng vic cn làm ngay và phê bình trên báo chí chính là mt gii pháp quan trng, hiu qu được Tng Bí thư Nguyn Văn Linh coi trng.

Biu hin rõ nét khi s im lng din ra không ít cơ quan, đơn v, địa phương gn đây là vic trì tr trong trin khai thc hin Quyết định s 08/2022/QĐ-TTg ngày 28-3-2022 ca Th tướng Chính ph v vic thc hin chính sách h tr tin thuê nhà cho người lao động b nh hưởng do dch Covid-19. Lý do ch yếu là s sai nên cơ s đã nghĩ ra nhiu giy phép con để ct cho an toàn. Hay như tình trng gii ngân đầu tư công cũng vy, khiến hàng chc nghìn t đồng nm im trong khi rt nhiu công trình, d án thiếu vn.

Thc tế cho thy, các t chc b k lut vi hình thc Cnh cáo gn đây như: Ban Thường v Đảng y Vin Hàn lâm Khoa hc xã hi Vit Nam các nhim k 2015-2020, 2020-2025; Ban Thường v Tnh y Hi Dương nhim k 2020-2025 cũng có nguyên nhân t hin tượng "ai biết người ny" nên khi có sai mà không phát hin, phát hin mà không đấu tranh kp thi; hoc cũng có th đồng lõa, dung túng cho nhau, cùng nhau ngm ming vì li ích cá nhân, cc b. Hu qu là cùng lãnh án k lut c tp th.

Ngh quyết Trung ương 4 (khóa XII) ca Đảng v Tăng cường xây dng, chnh đốn Đảng; ngăn chn, đẩy lùi s suy thoái v tư tưởng chính tr, đạo đức, li sng, nhng biu hin t din biến, t chuyn hóa trong ni b ch rõ 27 biu hin suy thoái. Trong đó có mt biu hin suy thoái v tư tưởng chính tr là: Trong phê bình thì n nang, né tránh, ngi va chm, thy đúng không bo v, thy sai không đấu tranh. Đối vi cán b, đảng viên, nếu th hin s im lng như trên thì lâu ngày s vô hình trung tr thành k đồng lõa vi cái xu, dung túng cho cái sai và tiếp tay cho cái ác lng hành. Khi cán b, đảng viên không bày t thái độ, hành động gì trước mt s vic đáng l phi có chính kiến kp thi, vì li ích chung thì đó là biu hin ca s vô trách nhim.

Do đó, gii pháp để ngăn nga bnh im lng là cn xác định rõ vai trò, trách nhim ca người đứng đầu cơ quan, đơn v; đồng thi, phi gn vai trò, trách nhim đối vi nhng hu qu do s suy thoái v tư tưởng chính tr, đạo đức, li sng gây ra. Có như vy, vic ngăn chn, đẩy lùi suy thoái v tư tưởng chính tr, đạo đức, li sng mi đạt được hiu qu và có tác dng động viên, khích l, khuyến khích cán b, đảng viên khác hc tp, làm theo. Nhn din đúng nhng biu hin suy thoái to cơ s cho mi cán b, đảng viên suy ngm và hành động; t soi, t sa, t phê bình và phê bình, kim đim đánh giá cá nhân, góp ý cho người khác và x lý đối vi cán b, đảng viên vi phm.

Kiên quyết vch trn, đấu tranh phòng, chng tình trng s đông im lnglà mt trong nhng vic làm cp thiết để góp phn xây dng các t chc Đảng trong sch. C th là cn tiếp tc thc hin đồng b các gii pháp như: Giáo dc, rèn luyn nâng cao bn lĩnh chính tr, trách nhim công v cho cán b, đảng viên; phát huy dân ch trong đảng và trong xã hi; coi trng văn hóa phn bin lành mnh; thc thi cht ch các quy định v kim soát quyn lc, nht là kim soát quyn lc cá nhân người đứng đầu; tăng cường giám sát, kim tra và x lý nghiêm minh các trường hp vi phm dân ch, độc đoán, chuyên quyn...

Đặc bit là cn có s nhìn nhn, xem xét vi phương pháp bin chng trước nhng sai sót trong công tác chuyên môn, nghip v, không nên ph định sch trơn vi nhng thang đim tr khi đánh giá cán b, đảng viên. Vì thế, các cp y, t chc Đảng cn làm tt hơn na công tác đánh giá cán b cho tht sát vi điu kin tình hình mi. Trong đó, phi xem s sáng to, đột phá ca cán b, đảng viên là tiêu chí quan trng hàng đầu trong h thng tiêu chí đánh giá, cương quyết không dĩ hòa vi quý”, cào bng.

Phê phán, đấu tranh vi tình trng im lng, suy nghĩ đấu tranh, tránh đâu là vic làm cn thiết nhm góp phn rèn luyn, nâng cao bn lĩnh chính tr, tinh thn chiến đấu, phm cht trung thc, dũng cm ca cán b, đảng viên trong điu kin hin nay./.

BVL-BS