CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI BLOG GIỮ TRỌN LỜI THỀ

Nhân đọc lá thư “Cu Tèo” gửi Tổng thống Mỹ Donald Trump

(giữ trọn lời thề) - Cuối cùng, Tèo chả “xin” được gì cả, nên đành cố vớt vát, mách cho cụ “Trăm” mấy chiêu những mong cụ thương tình...

Ổn định chính trị - xã hội là cơ sở để chiến thắng "Diễn biến hòa bình"

(giữ trọn lời thề) - “Diễn biến hoà bình” đã và đang được các thế lực thù địch coi là chiến lược tối ưu để thủ tiêu chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới...

Đẩy mạnh học tập tư tương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

kllvobi.blogspot.com - Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống nhân ái...

Tư tưởng Hồ Chí Minh - giá trị không thể phủ nhận

(giữ trọn lời thề) - Tư tưởng Hồ Chí Minh - tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc Việt Nam...

Đáng thương cho Nguyên Thạch: Phận chó cắn càn!

(giữ trọn lời thề) - Quê hương đích thực không cần những cá nhân vô đạo, ăn cháo đá bát, cõng rắn cắn gà nhà...

Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TIÊU ĐIỂM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TIÊU ĐIỂM. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

NHỮNG KẺ NGÁO VỀ CHÍNH TRỊ

Trần Hà Ly – Đầu bếp thi thoảng xuất hiện trên chương trình Cafe sáng với VTV3 thì phê phán đường lối ngoại giao của Việt Nam trong vấn đề xung đột Nga – Ukraine.

DJ làng Nguyễn Thế Chung thì phê phán bài trả lời phỏng vấn của Thiếu tướng Lê Văn Cương là “ếch ngồi đáy giếng”.

Xin trích phát biểu của Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng – Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh:

“Có người đã hỏi tôi “Các ông có sợ nước lớn buộc các ông phải chọn bên?”. Tôi bảo “Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình”.

Có những nước luôn nói, khi họ sinh ra thế giới này đã là của họ, họ sẽ lãnh đạo, chi phối thế giới, nhưng Việt Nam không như thế. Chúng tôi quan niệm, Việt Nam là của thế giới, Việt Nam vì thế giới, nhưng giá trị của Việt Nam là của Việt Nam và Việt Nam tự bảo vệ lấy”.

Việt Nam có thể nhỏ về diện tích nhưng chưa bao giờ nhỏ về tầm vóc, không ai có quyền yêu cầu Việt Nam theo phe này, phe kia, trung lập hoặc chống lại bất cứ quốc gia nào!

KAT - K3

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

BẢO ĐẢM AN NINH VÀ PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19, NHIỆM VỤ “KÉP” TRONG BẦU CỬ

 

Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an phát biểu chỉ đạo trong Hội nghị quán triệt, giao nhiệm vụ và phát lệnh ra quân bảo đảm an ninh, trật tự ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026

Do đại dịch COVID-19 nên cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 vào ngày 23/5 tới có nhiều nhiệm vụ đặt ra với chúng ta cần phải có các phương án quyết liệt để giải quyết. Trong đó, nhiệm vụ bảo đảm an ninh và chống âm mưu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch là nhiệm vụ trọng tâm, thì trong bầu cử chúng ta phải quyết liệt thực hiện một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là chống đại dịch COVID-19. Với nhiệm vụ “kép” trọng tâm, trọng điểm này dẫn đến công tác bầu cử sẽ khó khăn, phức tạp, tốn kém về nhân lực, vật lực và chúng ta phải có những biện pháp thực hiện khắc phục ở hoàn cảnh hiện tại.

Chính vì vậy, càng gần tới ngày hội toàn dân, chúng ta đẩy mạnh công tác đấu tranh không khoan nhượng với tổ chức, ca nhân phát tán các nội dung xuyên tạc, bịa đặt về thể chế, nhân sự của cuộc bầu cử trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên không gian mạng; tăng cường các hoạt động bảo vệ an ninh, sẵn sàng trấn áp, răn đe những đối tượng, phần tử manh động phá phách các công cụ tuyên truyền, cổ động cho bầu cử, sẵn sàng giữ an ninh ổn định tại tất cả các điểm bầu cử trước, trong và sau bầu cử. Đồng thời những cán bộ phụ trách tại các tổ bầu cử và cử tri trên khắp đất nước thực hiện nghiêm nhiệm vụ thứ hai - chống dịch bệnh tại các điểm bầu cử thời COVID-19, đó là đeo khẩu trang, sử dụng bình xịt sát khuẩn, bỏ phiếu giãn cách, kiểm tra y tế… Theo quy định của Chính phủ, đối với các địa phương có ca nhiễm COVID-19, mỗi điểm bầu cử bố trí một khu vực cách ly tạm thời cho người nghi nhiễm; cử tri sử dụng bút, thước riêng và bỏ sau một lần sử dụng; các điểm tổ chức bầu cử không gian phải thông thoáng; cử tri vào, ra theo một chiều nhất định; thực hiện bầu cử theo cụm dân cư và theo thời gian; ghi chép thời gian bầu cử của cử tri để truy vết nếu có trường hợp nghi nhiễm hoặc nhiễm COVID-19… 

Tổ chức bầu cử khi đại dịch COVID-19 đang diễn ra phức tạp là nhiệm vụ không dễ, thậm chí là khó khăn vì ta chưa  từng có kinh nghiệm. Chắc chắn sẽ có nhiều tình huống không lường trước được phát sinh trong quá trình thực hiện.

Nhưng theo thông tin đã đưa, nhiều địa phương đã dựa trên chỉ đạo chung đã đưa ra những cách thức, quy định sáng tạo, linh hoạt  tạo điều kiện tối đa cho cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ, cũng như đảm bảo phòng, chống dịch bệnh hiệu quả. Như: tại Bắc Giang, ổ dịch nóng nhất cả nước hiện nay, ngày bầu cử sẽ không có lễ khai mạc đông người. Tại Bắc Ninh, tỉnh đứng thứ hai cả nước về số ca mắc COVID-19, công tác chuẩn bị bầu cử cũng chú trọng vấn đề phòng dịch bệnh lây lan. Tại Đà Nẵng, chiều 16/5, quận Hải Châu đã diễn tập bầu cử tại khu chung cư đang bị phong tỏa. Tại Vĩnh Phúc có nội dung các tổ bầu cử sẽ đem hòm phiếu phụ đến tận nhà, kèm theo dụng cụ vệ sinh cần thiết để cử tri cách ly tại nhà bỏ phiếu. Đặc biệt, tại Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng đã nhấn mạnh: “Chỉ có kiểm soát được dịch, chúng ta mới có điều kiện để duy trì sản xuất, kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trước mắt: Tổ chức thành công cuộc bầu cử ngày chủ nhật 23/5 tới đây”. 

Với những phương án, biện pháp mạnh như trên , với tinh thần quyết tâm thực hiện nhiệm vụ “kép” nhất quán, sẽ góp phần lớn trong tổ chức thành công “ngày hội non sông” của đất nước./.

NVH-BC 

 

Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔNG HỢP, SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG THỜI KỲ MỚI

            Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện; luôn trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với dân tộc. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Bác Hồ, sự thương yêu, đùm bọc của nhân dân. Đó là sức mạnh của một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, biết kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, đã sát cánh cùng với nhân dân, với dân tộc lập nên những thắng lợi vĩ đại, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Ngày nay, trước yêu cầu mới, Đảng ta chủ trương xây dựng “Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại"[1].Với chủ trương, phương hướng đúng đắn đó, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta không ngừng được nâng cao, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt được mục tiêu đó, đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân đập tan mọi mưu đồ chống phá, xâm lược dưới mọi hình thức của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện, dất nước ta hiện đang đứng trước những thời cơ rất thuận lợi, nhưng cũng không ít những nguy cơ, thách thức. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp. Hơn nữa, trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, dẫn đến nhiều biến đổi lớn trong đời sống xã hội trên cả hành tinh, đến việc ra đời những học thuyết quân sự mới, sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao…Mặt khác, các thế lực thù địch đang tiếp tục thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, chống phá ta trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống, hòng làm cho chúng ta tự diễn biến, tự chuyển hóa tiến tới lật đổ Đảng, lật đổ chế độ, buộc đi theo quỹ đạo của họ; bọn phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài ra sức tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vu cáo chúng ta vi phạm nhân quyền, dân chủ, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phủ nhận những thành tựu phát triển của đất nước qua 35 năm đổi mới; phối hợp với bọn phản động trong nước tổ chức hoạt động chống phá, gây rối... ở một số nơi, nhất là trên những địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, làm mất ổn định an ninh chính trị - xã hội. Vì vậy, việc đấu tranh giữ vững hòa bình, bảo vệ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đang diễn ra trên những mặt trận phi vũ trang như: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống; đồng thời vẫn tồn tại khả năng đấu tranh vũ trang và chiến tranh trên các quy mô, dưới các hình thức. Cuộc đấu tranh đó lại diễn ra theo một hình thái mới, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, khác với trước kia đối đầu vũ trang là chính. Do đó, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát triển đất nước”[2]. Chính vì vậy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc ngày nay phải là sức mạnh tổng hợp: chính trị, tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, hiện đại hóa trang bị, vũ khí kỹ thuật đi đôi với việc không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới. Giữ vững môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, duy trì nền hòa bình lâu dài, đẩy lùi nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ trang, không để xảy ra bạo loạn và "tự diễn biến"; ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Cho nên, yêu cầu chiến lược quốc phòng, an ninh và đối ngoại quan hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ, gắn bó mật thiết với nhau, đồng thời dựa chắc trên cơ sở của chiến lược kinh tế - xã hội, chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trên, phải tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm nòng cốt cho toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ củng cố hòa bình, giữ vững ổn định chính trị, đánh bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đồng thời luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dưới bất cứ quy mô và hình thức nào, hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, lao động sản xuất và công tác trong thời kỳ mới.

Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân cũng là sức mạnh tổng hợp, dựa trên cơ sở tổ chức khoa học, cơ cấu tổ chức lực lượng hợp lý, phù hợp với tình hình mới. Trong đó, chú trọng xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện. Bởi vậy, xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị là một nội dung cơ bản xuyên suốt quá trình xây dựng quân đội, nhất là trong tình hình hiện nay. Đây cũng là nền tảng để Quân đội ta xác định rõ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; đấu tranh ngăn chặn, đánh bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực thù địch trên mặt trận lý luận, chính trị, tư tưởng, văn hóa...; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đã tác động tích cực, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao đến toàn bộ hoạt động và hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội. Cán bộ, chiến sỹ nhất trí cao với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, lòng tin và bản lĩnh chính trị được củng cố. Toàn quân luôn luôn nêu cao ý thức gắn kết nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ chống "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Việc xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay cần tập trung giáo dục cán bộ, chiến sỹ nhằm khơi dậy và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cộng đồng, đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì tương lai của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Những giá trị tinh thần đó truyền từ đời này sang đời khác, là nguồn sức mạnh của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngày nay, chúng vẫn là nguồn sức mạnh to lớn đối với sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đất nước đã hòa bình, độc lập, thống nhất, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập, hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới để phát triển. Thế nhưng, con người phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày trong cơ chế thị trường đầy khắc nghiệt và phải luôn đối mặt với những tiêu cực của xã hội, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, âm mưu phá hoại độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta của các thế lực thù địch được che đậy dưới những chiêu bài và hình thức hết sức tinh vi, thâm độc, thì yêu cầu của việc giáo dục chính trị, tư tưởng phải thực sự khoa học, có sức thuyết phục. Hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn bó chặt chẽ, tác động biện chứng với cuộc đấu tranh chống các quan điểm cơ hội về chính trị, các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đấu tranh chống các tệ nạn tiêu cực của xã hội. Do đó, chất lượng, hiệu quả của việc giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy truyền thống cách mạng của Quân đội ta hiện nay chính là thể hiện tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức chăm lo xây dựng tiềm lực mọi mặt của đất nước; xây dựng sức mạnh tổng hợp của Quân đội nhân dân, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân, đánh thắng kẻ thù xâm lược, nếu chúng liều lĩnh xâm lược nước ta bằng bất cứ hình thức nào.

Trên cơ sở xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về chính trị, phấn đấu tạo sự chuyển biến vững chắc hơn, toàn diện hơn về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Tiếp tục chấn chỉnh ổn định tổ chức, biên chế cơ quan, đơn vị phù hợp với yêu cầu thời bình và sẵn sàng đối phó có hiệu quả các tình huống có thể xảy ra.

Cần xây dựng đội ngũ cán bộ có số lượng, cơ cấu hợp lý, đồng bộ, chất lượng cao. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì cấp chiến dịch, chiến lược, cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước. Có chính sách phù hợp nhằm phát huy năng lực, trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ sỹ quan đã được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu, bảo đảm vững chắc trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ, tăng tỷ lệ cán bộ khoa học quân sự có trình độ và chuyên gia đầu ngành. Thường xuyên củng cố, kiện toàn cơ quan tham mưu, cơ quan chính trị, hậu cần các cấp và đội ngũ cán bộ theo hướng gọn, mạnh, hợp lý, thực sự là những cơ quan vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ. Có chủ trương, chính sách và giải pháp phù hợp để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động ở những địa bàn khó khăn, phức tạp; đồng thời, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, huấn luyện. Công tác giáo dục, huấn luyện phải lấy yêu cầu đánh bại chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và sẵn sàng đánh thắng các loại hình, các quy mô chiến tranh xâm lược của địch trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong huấn luyện cần bám sát phương châm "Cơ bản, thiết thực, vững chắc"; coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, sát đối tượng tác chiến, sát thực tế chiến đấu, sát yêu cầu nhiệm vụ địa bàn hoạt động của từng lực lượng, từng đơn vị, phù hợp với tổ chức biên chế, khả năng trang bị hiện nay và những năm tới; phù hợp với nghệ thuật quân sự, kinh nghiệm chiến đấu và cách đánh truyền thống Việt Nam. Huấn luyện cho bộ đội tác chiến giỏi bằng vũ khí trong biên chế, thuần thục khi được tăng cường vũ khí kỹ thuật có hàm lượng công nghệ cao; tác chiến hiệp đồng quân binh chủng ở các quy mô. Từng bước tiếp cận huấn luyện, khai thác sử dụng các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật công nghệ cao... Đồng thời, chú trọng đúng mức đến huấn luyện lực lượng dự bị động viên và lực lượng dân quân, tự vệ, bảo đảm nâng cao trình độ, khả năng tác chiến của từng lực lượng.

Các học viện, nhà trường quân đội cần tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến căn bản về phương pháp dạy, học và công tác quản lý. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; tích cực đầu tư nâng cấp trang thiết bị dạy và học, mở rộng liên kết đào tạo trong và ngoài quân đội, hợp tác quốc tế, thiết thực góp phần nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Tiếp tục hoàn thiện phương thức bảo đảm hậu cần quân đội, tập trung xây dựng, hoàn chỉnh thế trận hậu cần khu vực phòng thủ chung của đất nước, chủ động tạo thế, tạo lực hậu cần ngay từ trong thời bình; tích cực xây dựng các căn cứ hậu cần; kết hợp chặt chẽ hậu cần nhân dân, hậu cần tại chỗ với hậu cần quân đội tạo thế trận hậu cần vững chắc bảo đảm cho lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân chiến đấu. Quản lý hậu cần chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả các phương tiện vận tải và xăng dầu ở các cấp, cả lượng dự trữ và thường xuyên, quán triệt quan điểm cần kiệm, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bộ đội.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học - nghệ thuật quân sự. Công tác nghiên cứu khoa học - nghệ thuật quân sự cần tích cực đổi mới để đạt tới trình độ xây dựng hệ thống lý luận về đường lối, quan điểm quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Trong quá trình thực hiện cần kết hợp chặt chẽ giữa kế thừa những tinh hoa truyền thống với tổng kết thực tiễn về quân sự, quốc phòng qua các cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu phát triển lý luận nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, trước một đối tượng tác chiến được trang bị vũ khí công nghệ cao. Đồng thời, nghiên cứu ứng dụng các thành tựu mới của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ tin học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vật liệu hóa... vào các lĩnh vực hoạt động quân sự; bảo quản, sửa chữa, cải tiến, thiết kế, chế tạo, tiếp thu chuyển giao công nghệ sản xuất quốc phòng, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực. Coi trọng việc chỉ đạo nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao quy mô trình độ hiện đại hóa tổ chức chỉ huy.

Bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân. Vì vậy, cần làm cho mọi cán bộ, chiến sỹ, coi quá trình bảo vệ và xây dựng là thống nhất biện chứng; xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước thâm nhập vào nhau, gắn bó hữu cơ với nhau, trong xây dựng đã có yếu tố bảo vệ và ngược lại; xây dựng là "gốc" của bảo vệ, nhưng bảo vệ là yếu tố không thể thiếu của xây dựng. Hai nhiệm vụ chiến lược đó phát huy tác dụng ngay từ bây giờ để giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển đất nước.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ dẫn đến việc hình thành những trọng tâm kinh tế mới, nhất là vùng duyên hải với lợi thế về giao lưu kinh tế, lao động, tài nguyên, v.v.. Cùng với nó là sự phát triển kết cấu hạ tầng ở những khu vực này. Điều đó, đặt ra những vấn đề mới trong tư duy chiến lược quân sự, quốc phòng. Nó đòi hỏi phải bổ sung, điều chỉnh kế hoạch quân sự, quốc phòng trên từng khu vực phòng thủ, từng hướng chiến lược cũng như trên phạm vi cả nước, tạo thế bảo vệ các trọng điểm kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng đứng chân trên các địa bàn chiến lược vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, trước hết là bảo toàn, phát triển năng lực, làm cho đơn vị đứng vững được và từng bước vươn lên trong cơ chế thị trường, tạo ra thế bố trí chiến lược mới của đất nước về kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, tạo nền tảng chính trị - xã hội xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trên các địa bàn chiến lược đó.

Kế thừa và Phát huy truyền thống , Quân đội nhân dân tiếp tục củng cố vững chắc trận địa chính trị, tư tưởng của Đảng trong quân đội, nâng cao hơn nữa chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, trước hết là bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực. Cán bộ, chiến sỹ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang trung thành, tin cậy, sắc bén của Đảng, Nhà nước và của dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

                                                                                                    NXT- H1



[1] Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, tr. 48

[2] Đảng Cộng sản Việt nam, văn kiện Đại hội XIII, tập 1, tr.67

Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

NGHỊ QUYẾT CỦA CHÍNH PHỦ VỀ MUA VÀ SỬ DỤNG VẮC XIN PHÒNG COVID-19

NGHỊ QUYẾT CỦA CHÍNH PHỦ VỀ MUA VÀ SỬ DỤNG VẮC XIN PHÒNG COVID-19


Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 21/NQ-CP về mua và sử dụng vắc xin phòng COVID-19.
Nghị quyết nêu rõ, Chính phủ giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương có liên quan thực hiện việc mua, nhập khẩu, tiếp nhận viện trợ, tài trợ, quản lý và sử dụng vắc xin phòng COVID-19 trong năm 2021 cho người từ 18 tuổi trở lên: Số lượng khoảng 150 triệu liều. Bộ trưởng Bộ Y tế căn cứ yêu cầu phòng chống dịch, quyết định số lượng vắc xin cụ thể cần mua, nhập khẩu theo từng giai đoạn.
Cơ chế mua vắc xin thực hiện mua sắm trong trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 26 Luật đấu thầu năm 2013.
Đối tượng, địa bàn ưu tiên tiêm và miễn phí
Nghị quyết quy định đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí gồm:
+ Lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch, gồm: Người làm việc trong các cơ sở y tế; người tham gia phòng chống dịch (Thành viên Ban chỉ đạo phòng, chống dịch các cấp, người làm việc ở các khu cách ly, làm nhiệm vụ truy vết, điều tra dịch tễ, tổ covid dựa vào cộng đồng, tình nguyện viên, phóng viên…); Quân đội; Công an.
+ Nhân viên, cán bộ ngoại giao của Việt Nam được cử đi nước ngoài; hải quan, cán bộ làm công tác xuất nhập cảnh.
+ Người cung cấp dịch vụ thiết yếu: hàng không, vận tải, du lịch; cung cấp dịch vụ điện, nước…;
+ Giáo viên, người làm việc tại các cơ sở giáo dục, đào tạo; người làm việc tại các cơ quan, đơn vị hành chính thường xuyên tiếp xúc với nhiều người;
+ Người mắc các bệnh mạn tính, người trên 65 tuổi.
+ Người sinh sống tại các vùng có dịch.
+ Người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội.
+ Người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài.
+ Các đối tượng khác do Bộ Y tế quyết định căn cứ yêu cầu phòng chống dịch.
Về địa bàn, ưu tiên tiêm trước cho các đối tượng nêu trên ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang có dịch; trong tỉnh, thành phố ưu tiên tiêm trước cho các đối tượng ở vùng đang có dịch.
Căn cứ khả năng cung ứng vắc xin, ưu tiên tiêm trước cho các đối tượng tham gia công tác phòng, chống dịch bệnh, đối tượng ở vùng có dịch.
Nguồn kinh phí thực hiện
Nghị quyết nêu rõ, Ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp ngân sách nhà nước:
a) Ngân sách địa phương đảm bảo cho người dân trên địa bàn và các đối tượng do địa phương quản lý.
b) Ngân sách trung ương đảm bảo cho các đối tượng do các cơ quan trung ương quản lý và hỗ trợ ngân sách địa phương theo quy định sau:
- Các tỉnh miền núi, Tây Nguyên: Ngân sách trung ương hỗ trợ 70% mức ngân sách nhà nước thực chi theo quy định;
- Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn lại:
+ Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương từ 50% trở lên: Chủ động sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để thực hiện.
+ Các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50%: Ngân sách trung ương hỗ trợ 30% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
+ Các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách còn lại: Ngân sách trung ương hỗ trợ 50% phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
Các địa phương sử dụng tối đa 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương, tối đa 70% Quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh để thực hiện công tác phòng, chống dịch COVID-19. Trường hợp địa phương chi cho công tác phòng, chống dịch COVID-19 ở mức độ lớn, nếu phần ngân sách địa phương đảm bảo vượt quá nguồn lực của địa phương, gồm: 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồm cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% Quỹ dự trữ tài chính địa phương, ngân sách trung ương sẽ bổ sung thêm phần chênh lệch vượt quá nguồn lực của địa phương để các tỉnh, thành phố có đủ nguồn để thực hiện.
Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, còn có nguồn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác; nguồn do các tổ chức, cá nhân sử dụng vắc xin tự nguyện chi trả.
=Mõ Làng=
(Chinhphu.vn)

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

LÀM GÌ ĐỂ HƯỞNG ỨNG NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM


Tại điều 8 Luật Phổ biến giáo dục pháp luật 2012 quy định: Ngày 09/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sở dĩ lấy ngày 09/11 hằng năm là bởi bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa được ban hành vào ngày 09/11/1946. Sau đó nước ta có Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992. Trong đó Hiến pháp năm 1946 có ý nghĩa rất quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các bản Hiến pháp sau này cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam. Do vậy, ngày 09/11 được xác định là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chính thức luật hóa trong Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, có hiệu lực từ ngày 01/01/2013. Đây là ngày nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội. Vậy để hưởng ứng Ngày pháp luật năm 2020 mỗi chúng ta cần phải làm những gì?

Đối với mỗi cá nhân: Cần phải nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của pháp luật cũng như công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Bởi đây là khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật, nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chúng ta phải biết rằng việc tổ chức Ngày pháp luật hằng năm nhằm tôn vinh và đề cao giá trị của Hiến pháp và pháp luật. Từ đó từng người nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, tích cực nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và lan tỏa sâu rộng pháp luật vào cuộc sống. Đồng thời, qua Ngày pháp luật xây dựng niềm tin, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật cho mọi người dân. Các hoạt động của mỗi cá nhân hưởng ứng Ngày pháp luật cũng góp phần hình thành và phát triển nhân cách của con người, mỗi chúng ta sẽ tự ý thức về bản thân bình, về xã hội, về dân tộc và về đất nước. Bởi qua ngày này giá trị con người được đề cao, trân trọng ý thức làm chủ, tộn trọng kỷ luật, tự do trong khuôn khổ pháp luật. Từ đó tạo nên sự bền vững của ý thức pháp luật, kỷ cương, phép nước. Mỗi một hành động, việc làm của chúng ta sẽ cùng nhau góp phần tích cực vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Khi mỗi chúng ta nâng cao nhận thức về pháp luật sẽ góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền mà ở đó từng cán bộ, nhân viên và các thành viên trong xã hội có thái độ, ý thức kỷ luật, kỷ cương pháp luật. Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ điều chỉnh tốt nhất hành vi khi chúng ta chấp nhận và tự nguyện chấp hành, trở thành nhu cầu của mỗi người. Do đó, mỗi chúng ta có những hành động thiết thực hưởng ứng Ngày pháp luật năm 2020 sẽ góp phần động viên toàn dân đoàn kết, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật, tự giác chấp hành Hiến pháp và pháp luật, tích cực tham gia bảo vệ pháp luật. Đặc biệt trong bối cảnh các thế lực thù địch đang gia tăng sự chống pháp Đảng và Nhà nước ta hiện nay, Ngày pháp luật có ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Đối với các cơ quan, tổ chức: Để hưởng ứng Ngày pháp luật, các cơ quan tổ chức cần căn cứ vào tình hình, điều kiện thực tế để tổ chức cho phù hợp, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và sát với nhiệm vụ của từng đơn vị. Trước hết, lãnh đạo, chỉ huy phải tổ chức giáo dục, quán triệt cũng như tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Ngày pháp luật Việt Nam tới toàn thể mọi người. Lựa chọn những nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật thiết thực, phù hợp, nhất là những nội dung cơ bản của các văn bản pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực trong năm 2019 và năm 2020. Phổ biến sâu rộng những chính sách, quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực thông tin, truyền thông nói riêng. Đặc biệt, các cơ quan, tổ chức phổ biến về công tác phòng chống tham nhũng, khiếu nại tố cáo, phòng chống dịch bệnh, tác hại của rượu, bia trong tình hình hiện nay. Khi tuyên truyền, giáo dục pháp luật cần vận dụng đa dạng các hình thức hưởng ứng, như: Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng internet; biên soạn và phát hành tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật; tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, tọa đàm và cuộc thi tìm hiểu pháp luật hoặc tổ chức mít tinh và các hoạt động hưởng ứng Ngày pháp luật. Triệt để tận dụng các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan bằng việc treo băng rôn, cờ phướn tại cơ quan, đơn vị. Kịp thời biểu dương và lan tảo những tập thế, cá nhân điển hình tiên tiến trong xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật Việt Nam. Nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời kiên quyết và nghiêm khắc phê phán, đấu tranh với hành vi vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn xã hội. Từ đó không ngừng nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trong chủ động tìm hiểu và học tập pháp luật.

Với những hoạt động, việc làm cụ thể và thiết thực của mỗi cá nhân và các tổ chức hưởng ứng Ngày pháp luật sẽ giúp cho những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến gần với người dân hơn và dễ dàng đi vào cuộc sống. Ngày pháp luật năm 2020 càng có ý nghĩa hơn khi toàn Đảng, toàn dân ta đa hướng tới Đại hội đảng lần thứ 13, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của luật pháp trong đời sống xã hội và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng và Nhà nước ta.

=Tia chớp=

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2020

Ý NGHĨA CỦA NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM 09/11

 


Hôm nay, ngày 09 tháng 11, là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; là ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội

Ở nước ta, Ngày 09/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa được ban hành. Sau Hiến pháp 1946, đất nước ta đã có Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, những tư tưởng lập hiến, những giá trị dân chủ, quyền con người, quyền công dân, tư tưởng và mô hình tổ chức nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các bản Hiến pháp và toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta. Chính vì vậy, ngày 09/11, ngày ban hành Hiến pháp 1946 được xác định là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngày Pháp luật) đã được chính thức luật hóa trong Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (có hiệu lực từ ngày 01/01/2013). Điều 8 Luật Phổ biến giáo dục pháp luật 2012 quy định: “Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”.

Thông qua Ngày Pháp luật giúp cho mọi tổ chức, cá nhân, công dân có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn, là dịp để đánh giá lại những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong hoạt động xây dựng, thực thi pháp luật. Qua đó, những người thi hành pháp luật cũng sẽ nhận được những thông tin phản hồi, những quan điểm đánh giá về tất cả các quy định pháp luật cũng như cách thức thực hiện, hiệu quả của hệ thống pháp luật đối với đời sống xã hội. Từ đó hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, cũng như cải thiện, nâng cao hoạt động của hệ thống tư pháp.

Ngày Pháp luật có ý nghĩa giáo dục sâu sắc trong việc đề cao giá trị của pháp luật trong nhà nước pháp quyền, hướng mọi tổ chức, cá nhân tính tích cực tham gia với hành vi, thái độ xử sự pháp luật đúng đắn. Đề cao quyền cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi công dân nói chung và cán bộ, công chức, viên chức nói riêng trong học tập, tìm hiểu pháp luật và tự giác chấp hành pháp luật. Qua đó góp phần nâng cao ý thức và niềm tin pháp luật, từng bước xây dựng và củng cố các giá trị văn hóa pháp lý trong cuộc sống xã hội. Đồng thời, đây còn là mô hình để vận động, khuyến khích, kêu gọi toàn thể nhân dân chung sức, đồng lòng vì sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện nhà nước, phát huy triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng tích cực hành động vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Do vậy, đây còn là sự kiện chính trị, pháp lý có ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa xã hội sâu sắc. Ngày 9-11 được coi là điểm mốc, là sợi chỉ đỏ kết nối xuyên suốt, có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng dân cư. Trên cơ sở đó, nhắc nhở giáo dục cán bộ, công chức, viên chức phải gương mẫu, tự giác tuân thủ, chấp hành, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật.

N.X.T-H1

 

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

HÀO KHÍ QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 02/9

Cách đây 75 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam triệu người như một, nhất tề vùng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ. Tuyên ngôn Độc lập có đoạn: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Tất cả các quyền đó đều là những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc trên thế giới”. 

Tuyên ngôn khẳng định đanh thép với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ quyền tự do độc lập ấy''. Quốc khánh 02/9 đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đây là nguồn sức mạnh to lớn, là tiền đề quan trọng để dân tộc ta liên tiếp giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi này, cách mạng nước ta chuyển sang một bước ngoặt mới, đưa nước ta trở thành một trong những nước đi tiên phong ở Đông Nam Á trong việc xây dựng chế độ mới - chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hoài bão, ước mơ của bao thế hệ người Việt Nam.

Trong không khí mùa thu lịch sử, triệu triệu trái tim người Việt Nam lại hướng về Quốc khánh 02/9 với niềm tin, tình yêu, niềm tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc. Hào khí Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam mãi mãi tỏa sáng và là nguồn sức mạnh vô tận đi cùng đất nước tiến lên.

=Tia chớp=

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

 


Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, không chỉ khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Tuyên ngôn Độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo ngay giữa lòng Hà Nội, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang của nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ - một doanh nhân buôn tơ lụa nổi tiếng giàu có. Văn kiện quan trọng này được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi, lấy ý kiến đóng góp của các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng, các thành viên Chính phủ lâm thời, trong quần chúng nhân dân và ý kiến tham khảo của A. Patti - đại diện cho quân Đồng minh. Tuyên ngôn Độc lập có 1.120 chữ, được sắp xếp trong 49 câu. Đây là một văn kiện lịch sử, văn bản pháp lý ngắn gọn, chặt chẽ, sắc bén, chứa đựng những nội dung cốt lõi, có cơ sở pháp lý vững chắc để không chỉ khẳng định chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước thế giới mà còn mở ra một thời kỳ mới của dân tộc ta, nhân dân ta trên con đường xây dựng và phát triển, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuyên ngôn Độc lập không chỉ kết tinh các giá trị truyền thống anh hùng, bất khuất, tinh thần và ý chí đấu tranh cho một nước Việt Nam độc lập, tự do mà còn khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới; đồng thời khích lệ nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc đứng lên chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc. Vì thế, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ gắn liền với Hồ Chí Minh mà còn mở ra thời đại Hồ Chí Minh lịch sử gắn liền với hành trình nhân dân Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tuyên ngôn Độc lập cũng khẳng định rõ vai trò, sức mạnh của khối toàn dân đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do. Trong hành trình gian khó ấy, có Đảng lãnh đạo, với một đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, với sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tranh thủ và phát huy sức mạnh dân tộc và thời đại, dân tộc ta đã thủ tiêu toàn bộ chế độ thực dân, phong kiến, “lấy lại tên trên bản đồ thế giới”. Vì thế, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là một mốc son chói lọi, góp phần làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta mà còn làm cho nền văn hiến Việt Nam: “Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững; Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa; Trong và thật, sáng hai bờ suy tưởng; Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa” được khẳng định và lan tỏa cùng thời đại.

Với Tuyên ngôn Độc lập, một nước Việt Nam hồi sinh sau bao mất mát, hy sinh tiếp tục hướng đến tương lai tươi sáng, đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong hành trình ấy, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về “tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng” trong Tuyên ngôn Độc lập; về điều mong muốn cuối cùng "toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới" trong Di chúc gắn với “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”, coi lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng, là mục tiêu cao nhất, quan trọng nhất, có nghĩa định hướng hoạt động đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, Việt Nam đã luôn kiên định và sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, kể cả các nước có quá khứ là thù địch nhưng công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đó chính là truyền thống bao dung, nhân ái Việt Nam, là xóa bỏ hận thù và gác lại quá khứ để cùng nhau hướng đến tương lai.

Đặc biệt, trong 34 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với những thành tựu về mọi mặt, Việt Nam đã và đang ngày càng chủ động và tham gia tích cực tại Liên hợp quốc về quyền con người, đóng góp tích cực trong các Ủy ban ASEAN về phụ nữ và trẻ em, về lao động di cư… Ở trong nước, quyền con người đã được thực thi, được hiến định. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền công dân được triển khai xuyên suốt, đồng bộ thông qua các chương trình xây dựng luật, pháp luật của Quốc hội. Trong quá trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp, quyền con người và quyền công dân luôn là một vấn đề căn cốt của các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013. Trong Hiến pháp 2013, lần đầu tiên các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân đã được Quy định trong chương II. Đặc biệt, có thể nói, mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là quá trình hiện thực hóa “quyền sung sướng” “dân giàu” và “quyền tự do” “dân chủ”, quyền là chủ, quyền làm chủ của nhân dân quyền con người được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, phù hợp luật pháp quốc tế về quyền con người, bảo vệ quyền con người.

75 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, đặc biệt là sau 34 năm đất nước đổi mới, mỗi người dân Việt Nam càng thấy thấm thía hơn giá trị của độc lập, tự do; ý nghĩa lớn lao và sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và quyền của mỗi dân tộc. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng mà mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới đều hướng đến.

Bản Tuyên ngôn Độc lập là tư tưởng, là tâm nguyện và kết quả của hành trình tìm đường cứu nước, thực tế đấu tranh cách mạng và tư duy khoa học sắc sảo, độc đáo của lãnh tụ Hồ Chí Minh; đồng thời, cũng là hiện thân sinh động sự gặp gỡ lịch sử giữa dân tộc Việt Nam giàu truyền thống và văn hiến, luôn khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, hữu nghị với một thời đại hòa bình, hợp tác, thân thiện và phát triển, luôn tôn trọng luật pháp quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, khó lường, quan hệ quốc tế vừa có những thuận lợi vừa có nhiều thách thức hiện nay, trên cơ sở xác định mục tiêu tối thượng là bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển, đảo gắn liền với bảo đảm quyền con người, cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục kiên trì đường lối, chủ trương độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị với các nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.

=Tia chớp=

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2019

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Kết quả hình ảnh cho CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAYCuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và ý thức hệ tư bản chủ nghĩa, là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp và ngày càng diễn ra quyết liệt. Trên mặt trận này, Đảng ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nêu rõ quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các văn bản của Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ này thể hiện nhất quán 3 quan điểm cơ bản, đó là: (1) Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay. (2) Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là bộ phận khăng khít của cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng. (3) Đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp.
Qua thực tiễn đấu tranh, chúng ta đã đúc rút ra một số kinh nghiệm ban đầu, đó là: (1) Cần nhận thức sâu sắc tính chất rất nguy hại của những quan điểm sai trái, thù địch, trên cơ sở đó tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với cuộc đấu tranh này; (2) Phải huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, nhất là đội ngũ các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch; (3) Kết hợp hài hòa các hình thức đấu tranh trên báo chí công khai, trên mạng internet, các blog...; triệt để sử dụng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng; (4) Nâng cao chất lượng, hiệu quả các bài viết phản bác, hết sức chú ý tính chiến đấu, tính thuyết phục.
Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ tới là tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Để hoàn thành nhiệm vụ quan trọng đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, đường lối, các giải pháp mà Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định, đó là:
Thứ nhất, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện có hiệu quả yêu cầu này, chúng ta phải: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới”. Đồng thời, phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, đổi mới công tác tư tưởng, lý luận.
Chúng ta phải khẳng định rằng, khi mỗi cán bộ, đảng viên và công dân trong xã hội có sự giác ngộ sâu sắc về mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về các đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì không chỉ mỗi công dân mà toàn xã hội sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tự ý thức trong việc nâng cao khả năng “tự bảo vệ”, ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng ngoại lai đi ngược lý tưởng xã hội, vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch. Về điều này, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả”. Đồng thời, Văn kiện cũng xác định, đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng, thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp Trung ương; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.
Thứ ba, chủ động ngăn chặn, nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.
Một trong những biện pháp quan trọng để đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch là chủ động nghiên cứu dự báo, sớm phát hiện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kịp thời ngăn chặn việc tuyên truyền, phát tán các thông tin xấu, độc, tài liệu xuyên tạc của chúng. Cùng với những biện pháp đó, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy các cấp và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là các ban chỉ đạo về đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách ở các cơ quan báo chí, truyền thông, các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu, các lực lượng nòng cốt ở các ban, bộ, ngành và địa phương trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo đảm các hoạt động đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận theo đúng định hướng của Đảng, chặt chẽ về nguyên tắc, vững vàng về quan điểm chính trị, sâu sắc về lý luận khoa học, sắc bén trong phương pháp và đạt hiệu quả cao. Đồng thời, huy động lực lượng rộng rãi trong nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và kiều bào ta ở nước ngoài, các tổ chức tiến bộ... tiến công chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ lẽ phải, thực hiện sự tiến bộ xã hội.
Thứ tư, đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá nước ta trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Các quan điểm sai trái, thù địch sẽ gây tác hại trong môi trường xã hội có sự suy thoái và có những biểu hiện này. Do vậy, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung và chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng phải gắn với việc đẩy mạnh đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
          Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, đồng thời nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, đấu tranh ngăn chặn chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm.
          Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch luôn được Đảng, Nhà nước, nhân dân và xã hội ta đặc biệt quan tâm. Đại hội XII của Đảng xác định đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng, lý luận trong nhiệm kỳ đại hội. Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất tập trung của Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân sẽ thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

ĐẠI THẮNG 30-4-1975 ĐÃ MỞ RA KỶ NGUYÊN MỚI ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM – KỶ NGUYÊN HÒA BÌNH, ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC, CẢ NƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI


Kết quả hình ảnh cho ĐẠI THẮNG 30-4-1975 ĐÃ MỞ RA Ká»¶ NGUYÊN MỚI ĐỐI VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM – Ká»¶ NGUYÊN HÃ’A BÃŒNH, ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT Tá»” QUỐC, CẢ NƯỚC ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘIMùa Xuân năm 1975, với sức mạnh thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quân và dân ta bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã thừa thắng xông tới, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chiến thắng này đã khép lại cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta ròng rã gần 1/3 thế kỷ (1945 – 1975) kể từ khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn trở lại Nam Bộ; trong đó, hơn 1/5 thế kỷ (1954 – 1975) chống đế quốc Mỹ can thiệp và xâm lược miền Nam. Đó là mốc son đánh dấu cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng đã hoàn thành, thực hiện được những mục tiêu vĩ đại: dân tộc độc lập, Tổ quốc thống nhất, nhân dân ta có cuộc sống trong hòa bình, tự do và làm chủ đất nước. Cũng từ đây, một trang sử mới đã mở ra, một nước Việt Nam của người Việt Nam, sạch bóng quân xâm lược, đi vào hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là đại thắng của toàn dân tộc; của đức hy sinh, lòng dũng cảm và trí tuệ Việt Nam kết tinh bởi mưu lược sáng suốt, tầm nhìn chiến lược của Đảng và ý chí anh hùng, bất khuất của nhân dân ta. Với niềm tin “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” và hành động muôn người như một, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”, chúng ta đã làm nên chiến thắng. Sự sống mạnh hơn cái chết. Chính nghĩa đẩy lùi phi nghĩa. Đó là chiến thắng của cái thiện lớn nhất đối với cái ác lớn nhất trong thời đại ngày nay. Dân tộc Việt Nam với chiến công của mình đã đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chiến đấu cho sự tồn tại của mình mà cũng vì sự tồn tại của các dân tộc khác; vì độc lập – tự do – hạnh phúc, xứng đáng với quyền sống, quyền tự quyết để khẳng định và bảo vệ phẩm giá làm người. Chứng kiến sự kiện có một không hai này trong lịch sử anh hùng và bi tráng của Việt Nam trong thế kỷ XX, cả loài người tiến bộ và bạn bè của chúng ta ở khắp năm châu bốn biển đều thấy rõ, chiến thắng này không chỉ đem lại hòa bình, độc lập, thống nhất cho Việt Nam mà còn có sức mạnh cổ vũ các dân tộc đấu tranh cho tự do và công lý, thức tỉnh lương tri của nhân loại.
Sức mạnh Việt Nam  trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả của sự phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sức mạnh dân tộc được tạo ra bởi đại đoàn kết toàn dân tộc, được nuôi dưỡng bởi ngọn nguồn văn hóa Việt Nam, lịch sử anh hùng, bất khuất trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Sức mạnh ấy được tiếp nối, phát huy cao độ và thăng hoa trong thời đại Hồ Chí Minh – thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Ở thời khắc lịch sử đó, ngày 30-4-1975, tự đáy lòng của mỗi người dân Việt Nam yêu nước và tự hào dân tộc đã cất lên tiếng hát “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để cùng tưởng nhớ công lao to lớn của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc đã nhận định đúng đắn, chính xác: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua nhiều gian khổ, hy sinh nhưng nhất định chúng ta sẽ đến ngày thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Việt Nam nhất định thắng. Đế quốc Mỹ xâm lược nhất định thua; “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Dự báo, trù tính và niềm tin đó của Người đã truyền cảm, là chỉ dẫn cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hành động và đã thành hiện thực. Để hôm nay đất nước vững bước trên con đường lớn của lịch sử: độc lập dân tộc và CNXH.
Chiến thắng lịch sử 30-4-1975 như một kỳ tích, một huyền thoại mang tầm vóc thời đại ở thế kỷ XX. Đó là sự thật không gì có thể bác bỏ và phủ nhận được! Đúng như Đại hội IV của Đảng nhận định: “…thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.
        Hơn 40 năm đã trôi qua, kể từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, thời gian càng lùi xa, thì Chiến thắng 30-4-1975 của dân tộc Việt Nam càng nổi bật tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó. Các thế hệ người Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ và sâu sắc hơn giá trị và bài học của chiến công chói lọi này. Hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, nhân dân Việt Nam luôn thiết tha với hòa bình, khát vọng tự do và hạnh phúc, không bao giờ mong muốn chiến tranh. Nhưng, vì sinh mệnh và sự tồn vong của dân tộc, cũng vì nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng đối với quốc tế mà nhân dân ta, cả hai miền Nam – Bắc, tiền tuyến và hậu phương buộc phải cầm súng quyết chiến đấu và quyết chiến thắng. Để hôm nay mọi người Việt Nam được sống trong hòa bình, tự do mưu cầu hạnh phúc, phát triển, bạn bè quốc tế đến làm ăn, sinh sống, thăm thú trong thanh bình, điều đó chẳng quý lắm sao? Có được hòa bình như ngày hôm nay, dân tộc ta đã phải trả bằng máu và nước mắt, nên chúng ta rất thấm thía giá trị này. Ai đó, vì bất cứ lý do gì, gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam là có tội với đất nước, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
     Chiến thắng 30-4-1975 là sự tôn vinh sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người Việt Nam, của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhưng đâu đó, vẫn cất lên tiếng nói từ những người mang ý thức hệ xa lạ với nhân dân và dân tộc mình, coi đó là ngày “quốc hận” – một cái nhìn sai lạc và xuyên tạc sự thật lịch sử, đi ngược lại tinh thần khoan dung, đồng thuận, đoàn kết của toàn dân ta; tự reo rắc hận thù, chia rẽ, ngược với trào lưu lịch sử. Song, sự thật những gì diễn ra ở miền Nam suốt hai thập kỷ đã tự nó nói lên tất cả về cái tồn tại trong quá khứ của chính thể Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên. Đã không có độc lập, tự chủ thì chỉ là lệ thuộc. Giải phóng miền Nam, xóa bỏ một trật tự lỗi thời, một sản phẩm trái mùa của lịch sử là một thắng lợi của chính nghĩa, đem lại độc lập, tự do thật sự cho nhân dân. Nuối tiếc cái đã lùi vào dĩ vãng để gieo rắc ý thức “quốc hận” là xa lạ với chính đồng bào, dân tộc mình. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi dưỡng, kích động sự thù địch, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, đều tiếp tay cho kẻ thù, có hại cho tinh thần hòa hợp, đoàn kết dân tộc, cần phải phê phán. Đó là điều thứ hai cần nói tới trong tư duy phê phán của chúng ta.
       Chiến thắng 30-4-1975 là kết quả tiệm tiến và nhảy vọt của biết bao tích lũy, trải nghiệm, hy sinh của cả dân tộc, của các thế hệ, của sức mạnh tổng hợp và tổng lực của toàn dân, toàn quân. Đó là một tất yếu, sự lựa chọn của lịch sử dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam, vì đã có đường lối cách mạng đúng đắn. Sẽ không có thành công nào, khi mà đường lối, chính sách đi ngược lại nguyên vọng, lợi ích của nhân dân. Đó là thực tế. Tỏa sáng từ Chiến thắng đó ta thấy, không có sự lãnh đạo của Đảng, được dẫn dắt bởi thiên tài tư tưởng Hồ Chí Minh, không thể có thành quả chiến thắng và cơ đồ sự nghiệp như ngày nay. Đó là điều thứ ba cần phải nhấn mạnh trên tinh thần tôn trọng sự thật và lẽ phải.
     Ngày nay, đất nước ta đã đi qua chặng đường đổi mới hơn 30 năm. Chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng đã hơn 40 năm. Các thế hệ sinh thành trong bối cảnh ấy đã tận hưởng giá trị của hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc mà các thế hệ cha anh đã phải hy sinh bằng máu của mình. Thế và lực của Việt Nam đang ở vào thời kỳ sung sức đầy triển vọng. Đổi mới nhằm đạt tới “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Bác Hồ. Để thực hiện được mục tiêu cao cả đó, hơn lúc nào hết dân chủ – đoàn kết – đồng thuận là động lực cho sự phát triển của nước ta, cho dân tộc Việt Nam vươn tới trình độ một dân tộc thông thái, xã hội Việt Nam là một xã hội văn hóa cao. Cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đẩy mạnh hơn nữa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) để Đảng luôn xứng đáng với vai trò là người lãnh đạo.
       Chiến thắng 30-4-1975 sẽ mãi mãi tiếp thêm năng lượng, tinh thần, phát huy các giá trị sáng tạo, cổ vũ nhân dân và dân tộc ta đi tới, hướng tới phát triển bền vững và hiện đại hóa trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.