Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I, Trường Nguyễn ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[1]. Luận điểm đó là sức sống, linh hồn của chủ nghĩa Mác. Đồng thời, đó cũng là mẫu mực mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta trong việc vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Từ
những ngày đầu tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã tiếp cận với nhiều tư tưởng,
nhiều học thuyết ở nhiều châu lục khác nhau nhưng chỉ đến khi Người gặp chủ
nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận thấy rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết
cách mạng nhất, khoa học nhất, là nền tảng tư tưởng cho cách mạng Việt Nam.
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất,
chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”[2].
Theo Người, muốn làm cách mạng thành công trước hết chúng ta cần phải nghiên
cứu lý luận, học tập lý luận, không có lý luận soi đường dẫn lối thì hành động
sẽ trở nên mù quáng. Người đã chỉ ra rằng: “Không có lý luận thì lúng túng như
nhắm mắt mà đi”[3]. “Không
có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp
váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để
chủ trương cho đúng, làm cho đúng”[4].
Ngay ở trang đầu tiên của tác phẩm “Đường cách mệnh”, không phải ngẫu nhiên
Người trích dẫn câu nói bất hủ của Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không
có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, Đảng cách
mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”[5].
Hồ Chí
Minh không chỉ nhận thức sâu sắc về vị trí vai trò của lý luận, mà Người còn
vạch rõ nguồn gốc của lý luận, sự vận động tích cực của tư duy và tư tưởng để
hình thành lý luận. Lý luận mà Người đề cập đến ở đây không phải là thứ lý luận
chung chung, trừu tượng, bắt nguồn từ hư vô, thoát ly thực tiễn, mà nó rất
trong sáng, giản dị, cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ và gần gũi thực tiễn. Theo Người,
muốn có lý luận người ta phải dựa vào hoạt động thực tiễn, dựa vào những thực
tế trong lịch sử, dựa vào những kinh nghiệm đã được đúc kết trong quá trình
hoạt động thực tiễn. Thông qua những hoạt động thực tiễn của lịch sử xã hội,
con người phân tích, khái quát thành lý luận. “Lý luận là đem thực tế trong
lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ
lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý
luận chân chính”[6].
Như
vậy, lý luận được xuất phát từ thực tiễn, được phát triển trên cơ sở tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn để rồi trở lại chỉ đạo thực tiễn. Lý luận gắn chặt với
thực tiễn, thực tiễn là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của lý luận. Lý
luận chỉ có thể trở thành khoa học, trở thành chân lý khi nó bắt nguồn từ trong
hoạt động thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng. Trong quá trình hoạt
động và chỉ đạo hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quán triệt quan
điểm thực tiễn - quan điểm cơ bản hàng đầu của triết học Mác-Lênin. Chính vì
vậy, trong huấn luyện lý luận cho cán bộ, đảng viên, không những Người phê phán
tình trạng không coi trọng huấn luyện lý luận mà Người còn nghiêm khắc phê phán
cách huấn luyện lý luận xa rời thực tế, sách vở, theo cách học thuộc lòng, khô
khan, cứng nhắc, không thiết thực cụ thể.
Theo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận mà không gắn với thực tiễn, không đem ra thực
hành vào công việc thực tế là lý luận suông. “Lý luận cốt để áp dụng vào công
việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem
được hàng vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành thì khác nào một cái
hòm đựng sách”[7]. Ngược
lại, thực tiễn mà không có lý luận soi đường cũng như việc hành động mà không
dựa trên cơ sở lý luận được nhận thức và chỉ đạo, sẽ là thực tiễn mù quáng. Cả
hai trường hợp ấy đều là biểu hiện tách rời lý luận với thực tiễn, đều có hại,
đều không thể đem lại sự hữu dụng cần phải có. Đây là căn bệnh cần phải khắc
phục.
Người
trí thức mà chỉ trọng lý luận sách vở, không biết gì công việc thực tế, chỉ
biết tới tháp ngà chuyên môn, xa cách cuộc sống của dân chúng, sẽ tự mình ngáng
trở sự phát triển của chính mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đó là hạng trí thức
mọt sách, dễ mắc vào bệnh kiêu ngạo. Muốn đem hiểu biết, tài năng của mình phục
vụ cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân, phụng sự cho Tổ quốc thì phải đem cái
trí thức đó áp dụng vào thực tế, phải ra sức làm cái việc thực tế. Ngược với
khuynh hướng đó, nếu chỉ biết tới thực tế, mà lại chỉ biết bằng kinh nghiệm,
thì thường là thực dụng và thiển cận sẽ dẫn tới chỗ coi khinh hoặc xem thường
lý luận. Bệnh ấy thường mắc ở những người ít học thức, không chịu học hỏi lý
luận, nên trong hành động dễ mù quáng, phiêu lưu. Thói quen được củng cố bằng
chủ nghĩa kinh nghiệm là rất khó sửa, dễ sinh ra trì trệ, bảo thủ. Chính vì
vậy, Người đòi hỏi phải ra sức thực hành, học phải đi đôi với hành. Học để hành
càng ngày càng tốt hơn. Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên tuyệt nhiên không
được tuyệt đối hoá mặt lý luận, nếu không sẽ dẫn chúng ta sa vào chủ nghĩa giáo
điều; đồng thời, không được tuyệt đối hoá kinh nghiệm thực tiễn, vì như vậy sẽ
dẫn đến căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa giáo điều, cũng như căn bệnh
kinh nghiệm chủ nghĩa đều có cội nguồn từ việc tách rời sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Để khắc phục những căn bệnh ấy, theo Người trong nhận thức
cũng như trong hoạt động cách mạng, mỗi cán bộ đảng viên phải gắn “lý luận đi
đôi với thực tiễn”, “lý luận phải liên hệ với thực tế”, “lý luận và thực hành
phải luôn đi đôi với nhau”.
Quán
triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là vấn đề
có ý nghĩa quyết định trên nhiều lĩnh vực. Quán triệt tư tưởng đó của Người
trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở các học viện, nhà trường trong quân đội sẽ
góp phần bồi dưỡng, nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ quân
đội. Tư duy là sản phẩm của quá trình con người nhận thức hiện thực khách quan,
là quá trình phản ánh, vận động, phát triển của nhận thức và sản phẩm của quá
trình đó chính là những khái niệm, phán đoán, suy lý. Những khái niệm, phán
đoán, suy lý đó chứa đựng những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và bản thân
con người, thông qua quá trình tư duy mà có được. Tư duy lý luận là cấp độ tư
duy ở trình độ khái quát cao. Tư duy lý luận đòi hỏi phải hiểu sâu sắc thực
tiễn cuộc sống, từ đó mới có thể khái quát thành lý luận, phát triển lý luận.
Tư duy lý luận đối với người cán bộ chính trị được ví như là “chìa khoá” mở
rộng hoạt động nhận thức và thực tiễn của họ. Có tư duy lý luận, họ nắm được
thực chất quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chỉ thị, nghị
quyết của cấp trên; có khả năng phân tích, luận giải để nắm được tinh thần cốt
lõi của đường lối. Có tư duy lý luận người cán bộ quân đội sẽ có đủ năng lực
phân tích sự phong phú, tính đa dạng và phức tạp của thực tiễn cuộc sống chiến
đấu, lao động, học tập và công tác; để từ đó vận dụng lý luận một cách chủ
động, sáng tạo và có hiệu quả.
Cán bộ quân
đội là những người giữ cương vị lãnh đạo, chỉ huy, là người chủ trì hoặc tham
mưu cho cấp uỷ Đảng tiến hành các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị
và hoạt động quân sự. Nếu không có tư duy lý luận, thiết nghĩ, họ chỉ biết áp
dụng một cách máy móc, cứng nhắc những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà
nước - vốn là cái chung nhất, khái quát nhất - vào những hoàn cảnh rất riêng,
rất cụ thể. Nếu thiếu tư duy lý luận thì chẳng những họ không có sự sáng tạo mà
còn kìm hãm sự phát triển sinh động của thực tiễn cuộc sống. Cuộc sống thường
xuyên biến đổi, nó đặt ra những vấn đề buộc lý luận phải giải đáp, hối thúc lý
luận phải đổi mới và phát triển. Nếu không có tư duy lý luận thì người cán bộ
sẽ khó có thể lý giải được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra và lại
càng không thể có khả năng khái quát thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát
triển lý luận. Nhìn từ góc độ tư duy lý luận, người cán bộ quân đội phải là
những người có năng lực sáng tạo cao. Vì họ là những người phải nắm thật vững
bản chất những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, những chỉ
thị nghị quyết các cấp để từ đó đề ra những chủ trương biện pháp lãnh đạo sát,
đúng với tình hình thực tiễn mỗi đơn vị; từng bước cụ thể hóa chỉ thị, nghị
quyết của cấp trên, đưa đường lối, quan điểm, chính sách vào thực tiễn chiến
đấu, lao động và học tập của mỗi đơn vị; góp phần biến chủ trương, nghị quyết
thành hiện thực. Thế nhưng tư duy lý luận không phải là cái “bẩm sinh”, mà đó
là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, trước hết là trong hoạt động thực
tiễn. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, nhưng không
phải cứ có thực tiễn là có lý luận, cũng không phải thực tiễn trực tiếp sinh ra
lý luận, mà phải trải qua quá trình tổng kết thực tiễn, khái quát thành lý
luận. Quá trình thường xuyên tổng kết thực tiễn chính là quá trình mài sắc lý
luận, mài sắc tư duy lý luận.
Như
vậy, tính quy luật của việc nâng cao tư duy lý luận cho cán bộ trong quân đội
là việc học lý luận chính trị phải gắn với thực tiễn cuộc sống. Bám sát thực
tiễn, chăm chú phát hiện và tổng kết thực tiễn, một mặt để kiểm chứng lý luận;
mặt khác, để điều chỉnh bổ sung và phát triển lý luận mới. Đó là phương châm
nhận thức và hành động đúng đắn, khoa học của người cán bộ phù hợp với nguyên
lý thống nhất lý luận với thực tiễn theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước những diễn
biến phức tạp của tình hình trong và ngoài nước hiện nay đang đặt ra những yêu
cầu cao về nhận thức lý luận cũng như năng lực tư duy lý luận đối với mỗi cán
bộ nói chung và cán bộ quân đội nói riêng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa vô cùng
quan trọng, là cơ sở nền móng để bồi dưỡng, nâng cao năng lực tư duy lý luận
cho đội ngũ cán bộ chính trị trong quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới.
NXT - H1
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập,
Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.8, tr.496.
[2]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.2, tr.268.
[3]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.5, tr.233
[4]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.6, tr.47.
[5]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.2, tr.259
[6]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.5 tr.233.
[7]
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, H.2011, t.5, tr.233.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét